Category: Tạp văn


30.4.1975

S7430005

Là một người rất „yếu kém về ý thức chính trị“ như tay lớp trưởng nhận định và đánh giá nên quả thật ngày này với tôi không để lại dấu ấn gì lắm. Tất nhiên là cũng rất nôn nao, rất cảm động khi trên lớp thấy ông giáo già dạy tiếng phải vẽ bản đồ Việt Nam lên bảng và gạch chéo chỗ vĩ tuyến 17 để thể hiện từ „thống nhất“, „giải phóng“ mà ông không làm sao giải thích cho những đứa học sinh mới sang Cộng hoà Dân chủ Đức này hiểu được. Bởi đó là những từ trừu tượng chứ nó không phải cam, táo, bàn ghế.. gì để mà cụ thể dễ hiểu… Còn thư từ của gia đình bạn bè mô tả về không khí nao nức hồ hởi ở nhà thì cũng hàng tháng sau mới sang đến nơi, cũng đã nguội bớt đi rồi. Có chăng không khí thời điểm đó có khác biệt là Sứ cử người xuống dạy bài „Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng…“ để thuộc lòng trong các vụ hội họp… nghiã là bất kỳ lúc nào gặp nhau là phải hát bài này, bài mà cho đến giờ tôi vẫn không nhớ thật chính xác hoàn toàn.

Chứ còn về nguyên tắc là cuộc sống của chúng tôi vẫn như ngày thường, đít cô đít cậu, lên lớp hàng ngày, học hành nghiêm chỉnh, họp hành phê nhau và tự phê mình sao cho thật thành khẩn, đi hái trộm táo, mận… hay chơi khăm cán bộ Sứ như kiểu lừa cho lão ta đứng dưới cây anh đào chín rung cây cho nó rụng quả vào áo trắng, lem nhem hết cả… khoái chí để trả thù một vụ kiểm điểm nào đó…

Năm ấy là những tháng ngày mới sang Đức, còn đang thời gian học tiếng nên tiếng Đức tôi còn rất vớ vẩn, mọi sinh hoạt của tôi đều thông qua tiếng Nga hoặc tiếng Pháp là những thứ ngôn ngữ cả nhà tôi sử dụng từ khi tôi còn rất bé (nhưng giờ thì quên hết sạch rồi).

Nhưng những ngày này hàng năm đến tôi luôn nhớ đến một kỷ niệm khó quên của tuổi trẻ. Xin kể hầu các bạn chuyện không dính dáng đến súng đạn cả và không lập trường lập trại gì để khỏi nhận đá gạch mà một người chả chính chị chính em gì như tôi cũng thường xuyên lãnh đủ.

Ngày ấy trẻ lắm, tôi mới 18 tuổi, thậm chí khi sang đến DDR mới gần 18 tuổi thì phải. Bận yêu, bận vui, bận chơi với bạn bè nhiều… Dù học hành rất bận rộn nhưng „Cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm…“ là bình thường. Chẳng có gì cũng cười, chẳng có gì cũng vui… Tuổi trẻ mà. Líu ra líu riú suốt ngày.

Lớp tôi và những lớp trên nữa lớp nào cũng có vài anh chị của Bộ NV cử sang. Mãi sau tôi mới biết Bộ NV cử người đi học ở tất cả các ngành nghề, hầu như trường nào cũng có, ngành nào cũng có. Họ có nhiệm vụ gì cụ thể không, tôi không biết nhưng nhiệm vụ phụ để canh chừng chúng tôi thì chắc chắn là có. Khi ấy còn trẻ quá, khá vô tư nên tôi không thấy hết tầm quan trọng của các anh chị ấy. Sự „tai mắt“ của các anh chị ấy đã làm tôi, không chỉ tôi, khốn đốn liêu điêu nhiều. Thường các anh chị ấy học hành khó khăn vì tuổi tác cao hơn chúng tôi nhiều, hình như là cán bộ đi học thì phải hay là cũng trượt lên trượt xuống vài năm chẳng hạn rồi đi làm, rồi ưu tiên sao đó….Tóm lại là học hành chật vật lắm.

Từ thời học phổ thông, môn chính trị là môn tôi ghét nhất cùng với thể dục. Sao mà dốt thế hả giời. Đến mức mà cô giáo chính trị không hiểu nổi vì sao lại vậy, trong khi những môn khác đều khá hoặc giỏi, trừ môn ấy. Và để vớt vát cho tôi, vì tất cả điểm số đều đủ điểm A2 nếu như điểm chính trị ko tệ vậy. Thế là bằng một tấm lòng yêu thương vô bờ bến, cô cho tôi chép lại toàn bộ vở chính trị, để lấy điểm ưu bù vào cho điểm trung bình tăng lên, đủ chuẩn khá giỏi.

Vì sao phải nhắc nhiều về việc chính trị là để nói tôi vốn kém vậy. Chứng minh là hai chục năm sau, trong một cuộc họp phổ biến chủ trương chính sách mới của Đảng „Tình hình mới có nhiệm vụ mới“ về việc hoà giải hoà hợp dân tộc để dựng xây đất nước, cũng là nhân dịp 30.4 kỷ niệm giải phóng miền Nam, thì khi cán bộ Sứ đang thao thao bất tuyệt tôi lại ngứa miệng nói rằng vấn đề „Ai giải phóng ai thì phải để hậu xét, còn các anh miệng nói vậy nhưng lại gọi những người của chế độ cũ là ngụy thì có nghiã là đương nhiên các anh là chính nhân quân tử, sợ khó hoà giải thật lòng?!!“ Cả cái bàn họp năm ấy sững người cả, bạn bè thân thiết của tôi thì nói rằng “Nói làm quái gì cho rước lấy họa vào thân“. Nhưng khổ nỗi tôi quen nói điều tôi nghĩ kể cả biết điều ấy bất lợi với mình.

Vốn chẳng phe phái gì, có tí tiếng tăm trong công việc, cũng có nhiều đảng phái hay hội đoàn chính trị lôi kéo, cả phía này cả phía kia nhưng tôi đều chán ngán trước những cá nhân, tổ chức ấy. Người thì lặp bặp nói mãi không ra một câu, tư duy ấm ớ, người thì rủ tôi vào đảng họ mà khi hỏi tôn chỉ mục đích thế nào, rặn cả ngày không ra, kẻ thì chửi đối phương một cách xuẩn ngốc, cực đoan, không bài bản gì, bạ đâu chửi đó, lý luận không có, họ chỉ là những con vẹt chính trị lặp lại những điều người khác nói… Đó là còn chưa kể đến những trục lợi cá nhân. Tóm lại là vớ vẩn, cả anh cả ả. Rất ít người tôi thấy thật sự có chính kiến khách quan, đến mức có thể, để mình nể phục, thuyết phục được mình. Và như vậy dù không đồng quan điểm tôi cũng rất tôn trọng. Nhiều kẻ mồm thì leo lẻo chống cái này chống cái kia, đòi dân chủ cho Việt Nam mà chỉ khi người khác không cùng chính kiến với mình là hùng hổ chụp mũ, lăng mạ, chửi bậy bạ… Bởi vậy nên tôi không thích chính trị và cũng có lẽ từ đó không tham gia. Công việc tôi chỉ vì hạnh phúc cộng đồng. Tất nhiên trong cuộc sống, ít nhiều xã hội và chính trị đều có dính dấp đến nhau, dù anh muốn hay không muốn.

Quãng thời gian tháng Tư năm 75 đó là tôi vừa sang Đức mà nước Đức ngày ấy đối với chúng tôi, những đứa trẻ sinh ra lớn lên tại miền Bắc xã hội chủ nghiã thì cái gì cũng là mới lạ. DDR với chúng tôi là một miền đất kỳ thú và tình cảm của tuổi mới nhớn cũng là miền đất kỳ thú để khám phá, nhiệt tình và hăm hở.

Còn trẻ nên trông cũng dễ coi, cũng được vài anh ở những lớp trên để mắt nhưng không hiểu sao tôi không thích dù vẫn à ơi theo bản năng phụ nữ. Để đến khi có một anh thất bại trong cuộc tấn công nửa năm đã có lần nửa đùa nửa thật trong một cơn bi phẫn nói rằng „Em là con rắn độc của ái tình“. Ôi giời, khi ấy thì tôi hoảng hồn thật sự dù cả đời chưa gặp con rắn độc nào nhưng cũng biết rằng không phải là lời khen ngợi gì, chắc chắn không là một điều dễ chịu. 18 tuổi với một lời phán như đinh đóng cột ấy làm tôi hoang mang mãi. Đến tận giờ này ấy chứ. Không biết có đúng thế không? Sau một loạt những thành công cũng như thất bại trên tình trường.

Nhà văn hoá của trường Sư phạm này có một cây đàn dương cầm nên khi nhìn thấy thì tôi mừng quá. Ngày bé tôi đã học nhiều năm và sau không còn điều kiện nữa mới thôi. Nay thấy vậy nên hàng ngày tôi đều đi tập một mình. Có một lần đang tập thì tôi cảm thấy có đôi mắt nhìn từ một góc phòng rộng thênh thang vắng lặng. Chưa nói được tiếng Đức nhiều ngoài câu chào. Anh chàng đẹp trai này đến ngồi bên tôi làm quen và chúng tôi chuyện trò câu được câu chăng. Tôi phát hiện là anh trên tôi hai tuổi, con của hiệu phó trường này và đang học ở Matxcơva, về nghỉ lễ Phục sinh. Thế là sôi nổi hẳn lên, vì sự trao đổi ngôn ngữ chuyển sang được tiếng Nga. Từ đó…từ đó…

Nhưng mà câu chuyện này gian nan lắm bởi nó rơi vào đúng vào thời điểm mà học sinh sinh viên VN ở nước ngoài tuyệt đối cấm ko được yêu đương với người bản xứ, tức là các nước bạn anh em ấy. Mà kể cả với người Việt nữa ấy chứ. Khốn nạn. Ở cái ký túc xá từng phòng trong hành lang dài vậy, các phòng học sinh Tây thì đóng cửa mà phòng mình thì cửa phải mở toang hoang khi có một nam một nữ. Bọn Tây nó vô tư, mà ai kể cho nghe mà biết những cái chỉ thị thổ tả ấy nên chúng nó cứ đi qua là tiện tay đóng cửa vào. Thế là mình bên trong lại nhảy bổ ra mở cửa không các anh chị cán bộ lớp kia lại „tai mắt“ là lên Sứ kỷ luật liền (công bằng mà nói, không phải các anh chị ấy đều „dã man“ cả và những học sinh „thân Sứ“ còn „lợi hại“ hơn nhiều). Mỗi buổi nói chuyện phải nhảy ra nhảy vào ít nhất là dăm lần. Bởi „Ở đây tai vách mạch dừng“ luôn luôn phải đề phòng. Khổ nỗi có đề phòng được hết đâu. Đề phòng khi tình yêu hai chiều chứ một chiều thì bạn biết hết đâu mà phòng với chống.

Thế là đêm 30.4 bỗng dưng có một anh sinh viên Đức, trên 3 lớp. Sau khi nhậu nhẹt tưng bừng mừng Việt Nam thống nhất đã say khướt đến trước cửa sổ phòng tôi đòi gặp, đạp cửa đòi vào, hét hò ầm ĩ, bày tỏ tình yêu lâu nay câm nín với tôi mà tôi thực tình chỉ biết sơ sơ qua những lần gặp gỡ mà tôi tưởng vô tình, những cái gật đầu, lời chào, bắt tay hơi lâu hơn… . Vậy thôi. Đêm ấy tôi sợ quá, vì vẫn còn trẻ con, chưa thấy tình yêu mà được thổ lộ hò hét như vậy bao giờ. Tôi ở cùng phòng với hai chị cán bộ NV kia, hình như họ có nhiệm vụ quản tôi, sợ yêu đương lăng nhăng. Mà cũng không chắc vậy nhưng cứ vài đứa học sinh thì phải ở với ít nhất là một vị cán bộ. Rồi sự vụ tiếp diễn sao nữa tôi ko rõ vì mụ mị đi vì sợ. Sợ trước cách thổ lộ tình yêu vũ bão mà mình không quen. Sợ trước những bất trắc sẽ đến với mình và anh ấy. Sợ phát hiện ra vụ yêu con trai ông Hiệu Phó kia vỡ lở ra mà họ đã lờ mờ nghi vấn … Tóm lại là sợ hết cả thế giới, vào thời điểm đó. Vì kỷ luật vụ yêu Tây rất nghiêm ngặt, lôi thôi là bị tống cổ về liền. Mà về nước có nghĩa là nhục nhã cho bố cho mẹ, cho cả đại gia đình… không có một tương lai nào chờ đón cả.

Cả ngày hôm sau tôi sợ sấm sét rơi vào đầu bất cứ lúc nào. Đã thấy các anh chị cán bộ lớp bóng gió. Nhưng không thấy gì. Ngày hôm sau, hôm sau nữa cũng vậy. Rồi một tuần trôi qua. Vì lý do gì đó mà việc này chìm xuồng ư? Chắc sợ ảnh hưởng đến tình hữu nghị hai nước bạn chăng? Tôi nghĩ vậy nhưng tôi đã nhầm cho đến một ngày nhận được một thư xin lỗi viết tay của anh, nói rằng anh rất buồn đã thổ lộ tình cảm không đúng cách như vậy, làm ồn ào khiến tôi sợ, ở BGH ngày hôm sau khi bị gọi lên, anh đã nhận hết lỗi về mình, tôi không liên quan gì… và anh chào tôi vì dù đã là sinh viên năm cuối của trường nhưng anh bị đuổi học sau sự cố đó, anh muốn gặp tôi riêng một lần ở quán này quán này ngoài phố, tên anh là G.W. Đến bấy giờ tôi mới biết tên thật của anh. Tất nhiên làm sao tôi dám gặp anh như hẹn dù lòng tôi thật sự áy náy vì bản kỷ luật của anh quá nặng. Sau ngày này tôi không bao giờ gặp lại anh ở trường nữa, kể cả ở thư viện, căng tin hay sân trường, giờ nghỉ…

Phía Đức không thấy gì nên phía Việt Nam cũng im hơi lặng tiếng. Tất cả chỉ là kỷ luật đuổi học sinh viên G.W. của trường.

Bức thư ấy của anh là một kỷ niệm buồn và tôi giữ đến giờ này trong những kỷ vật còn lại theo năm tháng.

Một lần sau đó tôi gặp anh ngoài thành phố nhưng không dám thăm hỏi gì, chỉ chào vì hai vị nữ cán bộ kia kèm theo, không rõ vô tình hay cố ý. Chúng tôi ngày ấy đi đâu thường đi cả nhóm vài ba người, chẳng hiểu có phải thế không nhưng không đi đâu một mình bao giờ. Nghe đồn rằng anh đi làm ở nhà máy nào đó, không được học nữa. Sau đó tôi chuyển thành phố lên phương Bắc để học tiếp và không có bất cứ một tin tức nào của anh. Khoảng hai năm sau qua người yêu tôi, chẳng hiểu gã này nói thật hay do ghen tuông gì mà có nói với tôi hai lần là gã này về trường cũ đá bóng thì gặp G.W. đến chơi với bạn bè. Anh ấy hỏi thăm tôi, xin địa chỉ, nhưng gã không đưa và cũng không nói quan hệ của tôi bây giờ với gã. „Việc gì anh phải nói“. Tôi có hơi nhẹ lòng khi biết tin này dù không tin lắm nhưng vẫn mong vậy.

Và cuộc tình mới chớm của tôi với anh chàng ở Matxcơva về cũng tan theo mây khói do nhiều lý do. Đã lâu không còn nhớ rõ chi tiết nữa nhưng hình như chàng bị bố tống ngay trở lại Nga sau khi phong thanh biết con mình yêu một đứa con gái Việt. Vấn đề không phải cô ta là người Việt mà cô này đã làm cho một đứa sinh viên Đức đây phải bị đuổi học. Lại một lần nữa làm tôi nhớ đến con rắn độc của ái tình (trong đời còn vài lần nữa bắt tôi phải nhớ đến điều này nhưng xin để kể vào dịp khác). Khóc lóc thương nhớ rồi cũng nguôi, bởi thư từ của học sinh Việt là bị kiểm duyệt, dù không chính thức, vì không hiểu sao toàn tay lớp trưởng nhận hộ và trao lại cho chúng tôi. Mà ngày ấy thì chủ yếu là bưu điện thôi chứ điện thoại là điều không tưởng.

Đã gần bốn chục năm trôi qua nhưng những tháng ngày ấy mỗi khi đến dịp 30.4 hào hùng này luôn trở lại trong tâm trí tôi bởi câu hỏi về số phận của G.W. luôn là điều tôi băn khoăn. Trong cuộc đời nhiều khi chỉ một tai nạn rất nhỏ, một hòn sỏi nhỏ trên đường cũng có thể thay đổi hẳn cuộc đời anh, ngoài ý muốn. Tôi luôn hy vọng là với anh mọi việc may mắn. Tôi luôn cảm giác là tôi nợ anh ấy, một món nợ mà chẳng làm sao trả được. Mà thực ra bằng từng này tuổi này rồi mới hiểu cuộc đời này là những món nợ trần gian. Có thể anh trả được, trực tiếp hay gián tiếp, mà cũng có thể anh vĩnh viễn không trả nổi trong kiếp này bởi sự vay mượn ấy đã có từ vô lượng kiếp.

Có những sự việc, những con người, những suy nghĩ mà nếu ai không trải qua những thời khắc đó thì khó lòng mà tưởng tượng nổi chứ đừng nói đến chuyện thông cảm. Bởi vậy nên lên án cũng là chuyện thường tình của con người mà thôi.

Sau này, cách đây độ mười lăm năm, một lần vô tình tôi có gặp lại tay lớp trưởng ngày đó, hắn nói ngay với ông xã tôi khi đó đi bên cạnh là ngày xưa chúng tôi đến khổ sở vì cô này đấy anh ạ. Đùa đùa nhưng mà cũng là thật. Chúng tôi mà hắn nói là ai nếu không phải là ngoài cả một cơ chế để ràng buộc và cai quản phần hồn của lũ học sinh ngớ ngẩn „Chỉ biết yêu thôi, chẳng biết gì“ ngày đó.

Điều này lại làm tôi nhớ đến những buổi tranh luận nảy lửa của tôi và hắn trong những cuộc họp Đoàn khi hắn phê tôi là thiếu đạo đức XHCN và tôi hỏi hắn là định nghĩa cho tôi thế nào là ĐĐ XHCN, cái mà tôi thiếu ấy, hắn đã không trả lời được. Để „bù đắp“ lại là với tôi, hắn có những biện pháp chặt chẽ hơn và sự nhỏ nhen trong những lợi ích khác. Bây giờ nhìn lại, lòng tôi đã phẳng lặng đi nhiều, chứ ngày xưa nghĩ đến hắn là lại sôi sục… „Lục thập nhi nhĩ thuận“. Tôi đã ở cái tuổi mà sự cảm thông có thể là vô điều kiện với mọi người. Hắn cũng chỉ làm đúng cái hắn nghĩ của cả một thời thôi. Tôi nghĩ về hắn rất nhẹ nhàng, nhưng vẫn rất đau đáu về G.W. mỗi khi đến dịp 30.4 hàng năm. Vậy mà cũng đã gần bốn mươi lần 30.4.

Và tôi cũng nhớ lại. Chúng tôi những kẻ đi Tây về lúc bấy giờ đã mừng vui và tiếc nuối ra sao ở cuối thập niên bảy mươi khi biết tin, dù không chính thức, đã được phép kết hôn với người nước ngoài qua việc ái nữ cuả TBT Đảng ta cũng lấy vị GS của mình. Nhưng khi ấy đã muộn. Nhưng muộn còn hơn là không bao giờ.

Ngày ấy đã có biết bao cuộc tình tan vỡ một cách đắng cay, bi thảm… ví dụ kể sao cho xiết. Cho dù ai cũng biết rằng chắc gì cho họ sum vầy đã hết đớn đau, bởi quy luật cuộc đời là vậy. Nhưng hãy để họ được tự do quyết định hạnh phúc hay khổ đau của mình, đừng ai can thiệp vào hạnh phúc cá nhân thô bạo như vậy. Kinh nghiệm là sự trải nghiệm của mỗi cá nhân, chẳng ai làm hộ ai được. Nhưng rồi cũng biết, thời cuộc nó là như vậy. Có ai kéo ngược được lịch sử không?

Trong những phút giây ngẫm nghĩ về cuộc đời mình, tôi luôn tự đặt cho mình những câu hỏi, những giả thiết… nhưng một trong những câu hỏi mà tôi vẫn đau đáu hơn cả là cuộc đời G.W. ra sao sau biến cố đó và tôi luôn cầu chúc cho anh bằng an vô sự để anh giữ lại trong lòng mình cảm tình về một người con gái Việt Nam mà anh đã có lần yêu mến.

Berlin, 5.2014

//

//

//

Advertisements

Cậu (2)

„Niệm thiên điạ chi du du

Độc sảng nhiên nhi thế hạ” TTN

Bild (75) 

 

Cũng đã phải mấy năm rồi mình mới gặp lại cậu, cho dù thỉnh thoảng mình vẫn về Hà Nội. Nhưng không hiểu sao lần nào cũng khó gặp cậu vì lần thì cậu ở trong Nam thì mình ngoài Bắc và cậu ra Hà Nội thì mình lại về Sài Gòn chẳng hạn, rồi có lần cả nhà gặp nhau mà cũng không thấy cậu đâu, hỏi ra thì biết cậu không sang được vì chân đau, không đi lại được mà cô thì bệnh quá.

Hôm nay mình gặp lại cậu mà xót xa quá vì cậu già đi và ốm đi rất nhiều, dấu vết của tật bệnh ghi đậm trên mặt cậu và cậu như thành một người khác. Cậu nhớ nhớ quên quên, cậu lẫn rất nhiều. Cô em mình còn bảo có hôm em Liên về cậu còn không nhớ khi em trả lời tên lúc cậu hỏi chị ạ. Sau đó em bảo cháu là con bố Tuệ đây thì cậu bảo Tuệ nào nhỉ… Tóm lại là cậu đã quên rất nhiều. Thế giới này có lẽ cũng chẳng còn là ràng buộc ghê gớm với cậu nữa. Cái cậu quan tâm duy nhất còn lại ngoài việc sức khoẻ cuả cô thì có lẽ chỉ là những công trình khoa học mà thôi. Trong cuộc đời cậu đã để lại không biết bao nhiêu những luận án chuyên môn, những công trình khảo cứu và những chuyên gia giỏi, đội ngũ kế cận của ngành học mà không phải là ngành hot của thời nay. Cái ngành mà đòi hỏi một tình yêu sâu sắc, một nếp nhà để hun đúc nên tình yêu đấy, một vốn kiến thức thâm sâu, một sự tích lũy hàng đời, cần mẫn, chắt chiu…

Cậu dịu dàng gọi cô- tình yêu “Thiên trường điạ cửu” của cậu từ những ngày thanh xuân cho đến giờ này- là có cháu gái Hoài Thu về thăm cô cậu đây. Và cô, cô gái Hải Phòng năm xưa, đẹp mặn mà, đằm thắm, duyên dáng khéo léo vô cùng ấy đã trở thành một bà cụ ngơ ngẩn, nói năng ngọng nghịu dù đã cố gắng vô cùng mà phát âm vẫn không ra một câu cho thật chính xác. Chỉ còn nằm liệt trên giường ở phòng trong và bỏ màn cả ngày. Hình như như cậu nói thì ban ngày nếu trời đẹp thì có thể cô sẽ được cô giúp việc đẩy xe lăn ra cổng nhà hóng một tí khí trời. Nhưng cô cũng là người ở thế giới khác mất rồi. Cô đã không còn nhận ra mình nữa. Mình cứ nấn ná muốn nghe cô trả lời mà mãi cô vẫn không nhận ra.

Không hiểu sao bên giường cô, mình lại nhớ được đám cưới cô cậu cũng đã ngót nửa thế kỷ. Hôm ấy mình được bố mẹ cho đi về HP ăn đám cưới. Không hiểu sao mình nhớ rất kỹ mình bé tí và được vỗ tay ầm ầm khi mọi người thấy một con bé bốn năm tuổi gì đó, béo mũm mĩm, được bế lên bàn mà hát „Đôi bờ“ bằng tiếng Nga giọng chuẩn như người Nga. Rồi trí nhớ lại đưa mình về cái năm đứa em gái họ mình ra đời, con gái đầu tiên của cô cậu. Không hiểu sao mình nhớ mãi đó là những năm tháng sơ tán, mẹ bảo mẹ phải đi HP thăm cô mình mới sinh em, trước đấy mẹ đã đan cho em bé những mũ tất gì đó xinh xinh trông như đồ chơi, mình thích lắm. Đó là năm 67, hồi ấy cuộc chiến tranh vẫn chưa ngã ngũ.

Nhìn bà cụ bệnh tật, tóc cắt lớp xớp, ngơ ngơ… nằm liệt trên giường bây giờ chẳng bao giờ mình có thể hình dung với cô dâu xinh tươi, tóc uốn lượn sóng cài hoa trắng tinh khôi… ngày đó. Mẹ mình luôn tự hào vì các dì, các mợ và thím mình đều xinh đẹp, dễ thương và giỏi giang.

Vẫn biết đời là phù du, vô thường, sinh lão bệnh tử âu cũng là cái sự tự nhiên, sự tất yếu… cái đích cuối cùng của mỗi người… Nhưng mà mình vẫn buồn ghê gớm. Bởi vậy, từ cái lý thuyết đến cuộc đời là một khoảng cách xa xôi. Có phải cứ biết, cứ hiểu là chấp nhận được đâu dù vẫn biết không chấp nhận cũng không thể được. Ai mà cưỡng nổi được „Quy luật của muôn đời“?!

Cậu bắt đầu lẩm cẩm đã lâu. Mình đã hơi hơi nhận thấy từ cái dạo cậu sang mình chơi, khi cậu cứ hỏi đi hỏi lại, nói đi nói lại một việc. Mà chuyến đi châu Âu của cậu cũng đã gần tám năm trời rồi còn gì. Ngày ấy, mình đã nói với cậu là để năm sau cả chú mình và cậu trưởng sang nữa thì để „họp khoa“ bên này thì có phải có vui không. Giáo sư, giảng sư… ở ĐHSP HN, rồi Sài Gòn nữa thì nhà mình chiếm cũng gần chục vị nên nói họp khoa cũng là chuyện rất thường thôi. Còn mà kể cả thông gia nữa thì có khi phải hơn một tá ấy chứ chả chơi. Nhưng cậu lại muốn đi ngay và mình mời luôn cậu. Mình vẫn biết cậu sức khoẻ yếu hơn những cậu kia nên mình rất lo đợt cậu sang sợ không chịu đựng nổi những chuyến đi dài ngày lại liên miên. Vậy mà đúng là ý chí quan trọng thật. Cậu sang và về mọi việc êm xuôi hết. Cậu đi được nhiều nơi, gặp được nhiều người và gặp được hết con cháu sống ở châu Âu và rất vui nên mình cũng rất mừng. Tóm lại là chuyến đi của cậu thành công mỹ mãn cũng nhờ rất nhiều ở tài tháo vát của thằng em mình, con dì mình và gọi cậu bằng bác.

Anh trai mình rất giống nhà ngoại vì anh mình giống mẹ mình vô cùng, không chỉ mặt mũi mà cốt cách thần thái… Nhiều khi mấy anh em họ đứng với nhau trong cả đám đông mà người ta nhận ra ngay. Và hai cậu cháu lại càng giống nữa, anh trai mình và cậu. Ngày cậu sang chơi gặp bạn mình xưa cũng là sinh viên của cậu đã phải ồ lên ngạc nhiên là sao anh mình giống cậu thế. Mà thực ra thì có gì ngạc nhiên đâu. Hầu hết trong gia đình, mẹ mình và các cô cậu mình đều giống ông ở mũi rất cao và trán rất cao, da trắng, bàn tay thuôn dài và đẹp… Nên cái sự giống nhau âu cũng là cái lẽ thường tình. Nhưng cái để tạo ra cái thần thái thật giống nhau ấy chính là cái khí chất thanh cao, đạm bạc, hàn Nho… của những ông đồ xưa và chúng đã tạo ra cái sự giống nhau đặc biệt ấy.

Tất nhiên mình chẳng bao giờ quên được cái ảnh năm nào bố, cậu và chú mình ngày mới về Thủ đô. Mấy anh bộ đội Cụ Hồ về đứng chụp ảnh ở Bờ Hồ để kỷ niệm… Trẻ trung, trong sáng, yêu đời với những nét mặt đầy niềm tin, đầy hy vọng vào một ngày mai tươi sáng…  Một thế hệ đi theo lý tưởng của họ, chứ đại gia đình mình cả nội ngoại hai bên có phải là „Không còn con đường nào khác“ hay là nếu được thì „Được cả thế giới mà mất mỗi xiềng xích“ đâu. Hạnh phúc thay khi con người ta còn lý tưởng để tôn thờ và để sống! Mới vậy mà cũng đã hơn sáu chục năm cả rồi còn gì. Những chàng trai nhiệt huyết ngày ấy nay đã kẻ còn người mất. Nếu còn đều đã là những ông cụ râu tóc bạc phơ, may mắn giời cho còn khoẻ thì đi lại nhưng đã liêu xiêu lắm rồi.

Cái kỷ niệm với cô cậu mà sâu đậm nhất vẫn là cái thời kỳ đói khổ. Lần ấy mình ra thăm cô cậu trên trường ĐHSP ở Cầu Giấy. Trường này thì có một cái hố xí nhiều ngăn đã trở thành „huyền thoại“. Nó ở cuối trường, trông ra cánh đồng mà theo gió toàn bộ „hương thầm“ cứ „Gửi gió cho mây ngàn bay“ vào tận từng lớp học hay giảng đường… Mình cứ nghĩ, ai mà „viếng thăm“ đấy một lần thì có khi „Hương đượm ba ngày hương chửa tan“ mất.

ĐHSP còn là nơi mà khu tập thể của các giáo sư vẫn còn là dãy nhà lợp tranh, rất „nỏ“ và quả là nỏ thật vì hình như cháy rụi ít nhất cũng dăm lần thì phải, thậm chí nhiều hơn ấy chứ. Các giáo sư cùng gia đình mình vốn dĩ đã khốn đốn về nơi ăn chốn ở thì những khi ấy còn khốn đốn đến thế nào, kể sao cho xiết. Kể vậy lại nhớ vẫn còn phúc hơn cái Viện mình, gần trăm hàn lâm viện sĩ ăn ngủ sinh hoạt nấu nướng sinh con đẻ cái… hàng thế hệ trên cái bàn làm việc của mình. Sáng ra vội vã dậy thật sớm để dọn hết chăn màn, dầu đèn củi lửa, tã lót, mắm muối… vào dưới gầm bàn để làm việc. Hết giờ lại lôi ra… Chao ôi là trí thức Việt Nam của những năm tháng đó.

Ngày ấy, phòng cậu mình ở đầu hồi dãy nhà tranh ấy thì phải, nên có trồng được một vạt khoai dáy để lấy dọc của nó muối chua hay nấu canh hoặc muối chua rồi nấu canh… Và mình hôm ấy đã được thưởng thức món đó. Nhưng cô mình khi thấy cháu gái từ SG ra chơi thăm cô cậu đã lập tức đội nón đạp xe ra tận chợ ngoài đường để mua hai quả trứng vịt và một lạng thịt để băm tráng để đãi cháu. Cô biết mình không chịu khổ được (cho đến ngày đó). Nên dọc khoai dáy muối hôm ấy là cô cậu ăn hết để nhường cho cháu ăn trứng tráng với thịt. Hai đứa em mình ngày ấy còn bé hình như cũng được „vận động“ nhường chị thì phải. Nên nghĩ lại mà đau xót quá cho cái chuyện cười „Cứt đấy con ạ, mời bác xơi đi bác“, câu ông bố trả lời đứa con bé khi nó cứ lèo nhèo gợi ý „Bố ơi, cái gì đây hả bố?“ vì nhà thì có khách mà lại có mỗi đĩa trứng tráng – là một sự cố gắng ghê gớm ở cái thời buổi ấy- để mời ông khách

Nghĩ lại ngày ấy sao mình vô tâm thế vậy? Các cô cậu, chú dì… mình đều rất chiều mình. Bọn em út mình cũng đâu được vậy. Chúng nó thậm chí bị bóp mồm bóp miệng để dành để bao giờ anh, chị đến chơi mới được mẹ cho thịt gà, thịt thỏ… ăn mà thực ra là đãi các anh chị. Thâm tâm các cô, dì mình biết anh em mình sướng, không chịu được khổ nên bao giờ đến chơi cũng cố cho các cháu được ăn ngon. Cô mình là bác sỹ thú y ở quê mỗi lần lên chơi là gà qué hết bu nọ đến bu kia cho anh chị và các cháu, trong khi ba đứa em mình thì hàng ngày chỉ được ăn uống rau dưa qua loa thôi, anh trai mình dẫn người yêu đến chơi là dì mình thế nào cũng thịt một con thỏ hay gà để đãi cháu với bạn gái và thằng em mình ngày ấy còn bé thì được „mời“ ngay ra sân chơi với bạn  „cho vui con ạ“…

Sao lại có thời kỳ khổ thế nhỉ. Mà đến bây giờ chúng ta nhắc lại vẫn còn thấy hoảng hồn còn con cái chúng ta chắc chẳng bao giờ tưởng tượng nổi. Mà phải nói rằng cho đến tận hôm đó mình mới biết cái khoai dáy cho lợn ăn ấy lại có thể là món ăn của người, không những thế lại của những giáo sư đứng trên giảng đường Đại học và của chính cậu mình. Khi đứng ngắm vạt khoai trồng đầu hồi nhà ấy mình không thể tưởng tượng đó là món ăn chính của nhà cô cậu mình được. Biết cậu khổ, nhưng cũng là cái khổ chung chung vậy thôi, không thể tưởng tượng được. Ngày trẻ có những sự quan tâm khác và mình sẽ mãi ân hận về sự vô tâm đó.

Càng ngày mình càng thấy cái tên ảnh hưởng đến người. Tên cậu là một trong hai nội dung chính của đạo nhân của nhà Nho là „Cái gì mình không muốn thì đừng gán cho người“ còn tên cậu trưởng là „Điều mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt“. Ông ngoại mình đặt tên cho các con đều có ý nghĩa và mỗi tên đều có tên ông trong đó. Đó là chữ TÂM.

Cậu là người có lẽ giống ông ngoại mình nhất từ ngoại hình đến nội dung. Ở cậu người tiếp xúc sẽ thấy ngay chất hàn Nho trong cốt cách, nghĩa là có tí gàn trong đó, khiêm cung, trọng lễ nghĩa và „thanh bần lạc đạo“. Cậu có cái „ngây thơ“ giữa cuộc đời đầy rẫy những lắt léo lọc lừa này. Có nhiều điều mình biết mười mươi, ai cũng biết mười mươi nhưng cậu vẫn tin với một niềm tin sơ khai nguyên thủy là con người ta „Nhân chi sơ, tính bản thiện“. Anh em con cháu đều biết cả nhưng thôi cứ để cậu vui, cậu tin vậy.

Ai tốt với cậu một chút cỏn con, cậu cũng nhớ mãi. Cậu cứ kể mãi với mình là „D tốt lắm Hoài Thu ạ“. D là cô em thân thiết của mình làm ở hải quan, đã giúp cậu năm nào lấy kiện sách gửi từ hải ngoại về. Những năm mà có một gói hàng từ nước ngoài về còn là „cả một vấn đề“. Tất cả bạn bè mình từ bé đến giờ bao giờ cũng gọi các cô, chú, cậu… mình như anh em mình. Cậu thích lắm vì tình cảm như vậy, như một gia đình lớn. Cậu trân trọng từ những việc làm nhỏ nhoi thôi mà chứa chan tình cảm dù cậu không nói bao giờ.

Cậu vô cùng tự hào về thành tích của những học trò thành công mà cậu nâng đỡ, cho dù sau này có thể họ chẳng được như vậy với cậu nhưng cậu vẫn vui mừng trước mỗi thành đạt của họ… Cậu là người vô cùng liêm khiết và vô tư. Ngồi trên ghế giám khảo của kỳ thi NCS mà cậu thẳng tay từ chối cái mà hầu như trong cái thời đại này là hoàn toàn bình thường nếu không muốn nói là tất yếu. Bởi vậy, chắc gì cậu đã được đồng nghiệp thời nay mến mộ. Phàm là con người, mấy ai lại thích được người không giống mình. Chuyện này hoàn toàn dễ hiểu, bởi nó rất người, rất đời.

Và mình thương cậu quá bởi cậu cứ áy náy mãi về một việc cậu hứa với mình mà không được. Mình đã biết trước đã nói với cậu, nhưng cậu cứ tin người ta. Qua chú mình, cậu còn gửi lời xin lỗi mình là việc không thành. Dù đã lẫn nhiều nhưng gặp mình, cậu lại rất nhớ việc đó, cứ áy náy mãi là việc đó không được, cậu áy náy, cậu ân hận…. Mà khổ, việc đó có là gì, mình giải thích mãi là không vấn đề gì đâu mà cậu cứ xin lỗi mình mãi. Thương cậu quá. Đó chỉ là tính cách của một nhà Nho thực sự mới vậy thôi chứ thời nay ai mà còn bận tâm với „ba cái điều lẻ tẻ“ ấy, nhất là không phải lỗi do mình mà cũng là một việc cỏn con, và lại là với con cháu trong nhà. Vậy mà cậu cứ băn khoăn mãi… Cậu lại cả nghĩ, cứ nghĩ mình giận cậu nên không sang thăm cậu. Khổ, cậu có biết đâu là mình về lần nào cũng vội vội vàng vàng chớp nhoáng, vả lại cũng mải chơi nữa. Cuộc đời với mình còn nhiều niềm vui nữa… Càng nghĩ càng thương cậu.

Có cuốn sách nào mới ra, cậu cũng đề tặng mấy đứa cháu rất trân trọng. Mà khổ nỗi cậu đâu có biết có phải đứa nào cũng quan tâm đến đề tài của cậu đâu. Nhưng chắc cậu cũng biết trong ngần ấy đứa cháu có lẽ có mỗi mình là người thực sự quan tâm nhất và yêu quý mọi tác phẩm của cậu. Mình tự hào mỗi khi giới thiệu với độc giả rằng cuốn này, cuốn này là của cậu mình đấy, cậu viết lời giới thiệu, hay chủ biên hoặc là đồng tác giả…

Tất cả những bài báo có đăng bất cứ bài nào về mình hay thơ thẩn gì của mình cậu đều cắt ra ghi chép cẩn thận, giữ gìn… để khoe với các cô cậu hay các em mình mỗi khi gặp mặt với niềm tự hào không giấu diếm… Còn mình thì luôn vui mừng mỗi khi có báo chí đăng bài nào về cậu như cuộc gặp gỡ lại những giáo sư đầu ngành là bạn học cũ ở Thượng Hải… của cậu hay một bài phỏng vấn của một tạp chí chuyên ngành nào đó về cậu…

Cậu có lần nói với mình rằng cậu rất tiếc mình đã không theo nghề của cậu, nghề của gia đình. Do thời cuộc, mình cũng không theo được, điều mà mình tiếc mãi ở kiếp này (đành hẹn ở kiếp sau vậy). Từ ông ngoại, đến thế hệ mẹ mình và các cô, cậu thì có mỗi cậu, còn thế hệ mình và các em họ chẳng có ai. Thằng em họ mình, con trai cậu, thì nó học luật ra, lại là thẩm phán ở SG, chị nó học một ngành tự nhiên…Tóm lại thế hệ mình chẳng có ai cả, may sao cái thằng thẩm phán kia nó lại lấy một cô thạc sỹ Hán Nôm. Thế là cậu mình mừng quá, có người để truyền niềm yêu và kiến thức cũng như cái tủ sách to vật vã đầy chữ tượng hình kia mà không ai tiếp quản nổi kia. Thế là cậu yên tâm rồi đấy.

Trước khi bố mình mất ít lâu, cậu ở SG với bố mình. Hai anh em thường nhàn đàm, rung đùi bên ấm trà mà bàn về nhân tình thế thái. Tính cách hai người tưởng hoàn toàn khác nhau vậy mà lại nhiều điều tâm đắc. Mình nhớ ngày biết tin bố bị bạo bệnh cậu đã là người viết thư cho anh em mình bên này đầu tiên để hai anh em khỏi sốc. Rồi cậu cũng là người năm nào mơ thấy mẹ mình báo mộng nói mộ trên Bất Bạt bị sụt lở để cả nhà mình ra Bắc lo cho mẹ…Và sự thật quả như vậy. Cậu bảo chị về bảo em vậy… Mẹ mình thương tất cả các em nhưng mẹ mình đã về trong giấc mộng của cậu, chắc cũng chẳng phải vô tình…

Cuộc đời cậu lên rừng xuống biển cũng nhiều. Để cứu đói cho gia đình khi hai cô cậu đều là giảng sư của ĐH như hầu hết tình trạng của cả nước ngày đó, cậu đã đi làm chuyên gia tận đất nước Chùa Tháp, trước khi về được ĐHSP Hà Nội cậu đã từng ở bao lâu ở những ĐH khác nhau, nơi đồng rừng mù mịt, nơi miền Trung gió Lào khắc khổ…

Trong lòng mình hình ảnh cậu ngồi ở Bắc Kinh Đại học xá năm nào của những năm tháng trẻ trung sinh viên đọng lại mãi… Rồi thời gian sẽ phủ mờ mọi kỷ niệm, anh em mình đã dần dần tóc sương… nhưng tình ruột thịt máu mủ khiến mình càng biết yêu thương cậu hơn, theo cách của mình, dù rằng có thể là muộn đấy.

 Nhưng như mọi việc trên đời này, thà muộn còn hơn là không bao giờ cậu nhỉ. Cháu luôn tự hào về cậu, về đại gia đình mình, niềm tự hào đâu phải thiên hạ dễ có được, có phải không hả cậu. Và niềm tự hào ấy đã được chảy trong huyết quản con cháu mình. Chúng đã, đang và sẽ được gìn giữ mãi cậu ơi.

Bởi thời gian là một dòng chảy liên tục và miên viễn…

Bild (71)

Berlin, xuân 2013

Kỷ niệm giỗ đầu Chu Trung Can

S4420017

Lựa thật kỹ từng bông hoa tươi, chọn toàn một màu vàng với nhiều cung bậc, duyên sắc khác nhau… Một bó hoa đẹp, em hài lòng ngắm từng bông một, rồi lại nói cô hàng hoa giơ lên tứ phía cho mình ngắm nghía, thay đổi bông này chỗ này chỗ kia, đến khi thật ưng. Và em chỉ thật ưng khi nào tự tay em cắm mà thôi, ít có những bó hoa sẵn nào làm em vừa lòng cả. Hiếm. Trả tiền, cám ơn cô hàng hoa và ôm bó hoa lên xe… như có một cuộc hẹn, đến một chỗ hẹn, như ngày xưa…

Mà đúng là hẹn thật, Cò nhớ không. Em bảo tháng này em sẽ về và mình sẽ gặp nhau, anh em mình sẽ trò chuyện nhiều, bao nhiêu chuyện để kể cho nhau nghe, những chuyện đời, chuyện người, chuyện mình của bao năm xa cách…

Nhưng giờ đây trước mặt em, trên bàn thờ là Cò trong tấm ảnh, với nụ cười quen thuộc, thông tuệ, uyên bác mà hiền hậu, hóm hỉnh biết bao… Bây giờ chỉ còn là xa cách, và vĩnh viễn xa cách. Có kiếp sau không? Trong đầu em khi này chỉ còn một câu hỏi duy nhất đó thôi Cò à.

Cắm bó hoa vào bình mà em hy vọng là Cò sẽ thích, đặt lên bàn thờ, em cắt lại trong bó hoa cũ mấy bông cúc còn tươi, nhưng lá đã héo, thả vào một cái bát cho trôi bồng bềnh trên nước… để lên bàn khách và nhớ đến những ngày anh em mình vào Sài Gòn năm xưa. Nước mắt ứ tràn bờ mi nhưng em tự nhủ „Không được khóc, không được khóc Thu ơi“ vì em biết nỗi đau của người mẹ già phải khóc người con trai yêu quý của mình mất sớm không có gì có thể so sánh được, vực thẳm, núi cao…

Bác vẫn đẹp như thuở nào, vẫn minh mẫn, vẫn sắc sảo… Em và bác ngồi trò chuyện, nhắc lại bao kỷ niệm xưa ở ngôi nhà cũ, về những người cũ mà em cứ như thấy Cò ngồi bên, thỉnh thoảng cười hiền và thêm vài câu dí dỏm… Con mèo yêu quý của Cò bệ vệ, uyển chuyển đi lên cầu thang sau khi ném cho em một cái nhìn dò hỏi, ai mà lại có thâm tình vậy nhỉ với chủ nhân mình?

Ba trăm sáu lăm ngày qua Cò ở đâu? Ở một chiều không gian khác chắc Cò vẫn ghé về cõi tạm này, vẫn về bên người thân? Còn bao điều Cò nuối tiếc chứ? Công việc dở dang với bao dự định… Cuộc đời dù đau thương bao nhiêu vẫn đáng sống chứ Cò nhỉ? Đáng lẽ bây giờ là anh em mình ngồi ở một quán cà phê, nhấm nháp từng giọt cà phê, nghe những bài hát mà mình yêu thích khi xưa để nhớ lại tuổi trẻ của mình… Đó, Cò biết em sẽ đòi nghe bài gì nào? Chắc chắn sẽ là „Một cõi đi về“ mà Cò đã chép cho em năm nào ở nhà TCS, Cò nhớ không?

Mỗi lần về, đi ngang qua Viện mình, em vẫn như thấy Cò dừng xe trước cổng, cạnh bụi trúc ngà, đeo cái túi bụi bụi, ghé lại trò chuyện với ai đó trước khi vào làm việc… Nhưng rồi mình lại kéo nhau ngay ra quán bên đường, Cò nhớ không, cái Viện KHXH „khóa hóc xả hơi“ ấy nổi tiếng là khóa hóc mà xả hơi Cò nhỉ? Ôi tuổi trẻ cuả chúng mình…

Một tuổi trẻ hoang mang dọ dẫm, một tuổi trẻ miệt mài tìm kiếm những giá trị đích thực của cuộc sống, một tuổi trẻ hào hứng nhiệt tình thậm chí bốc đồng… Những ngày tháng ấy không dài với một đời người nhưng nó ghi dấu ấn sâu đậm bởi đó là sự khởi nguồn, sự bắt đầu, sự chập chững vào đời… Và em hạnh phúc có Cò như là một người bạn lớn. Em luôn biết ơn cuộc đời cho em vừa là bạn, vừa như một người em với Cò, một trong những người bạn lớn của cuộc đời em. Điều mà em muốn nói với Cò mà vẫn chưa nói được bao giờ. Thì bây giờ em nói đây.

Cò có nghe em nói đó không? Có thể có vì cũng có thể Cò vẫn quanh đây nhưng cũng có thể không vì Cò đã phiêu diêu miền nào. Lòng em vừa muốn Cò nghe thấy những điều em thầm thì nơi đây, bên bàn thờ Cò nhưng em cũng vừa muốn linh hồn Cò được siêu thoát, được tiêu dao. Bởi em mong và em tin chắc với một người như Cò thì sẽ chỉ có một nơi đến là niết bàn hay thiên đường mà thôi.

Và Cò biết không, kể từ khi Cò mất, luôn luôn vang lên trong tim em câu hát của một bài hát xưa mình hay nghe, Sơn Ca 7 Cò nhỉ

…“Cho một người vừa nằm xuống, thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang…“

Thênh thang nhẹ bước Cò ơi.

Berlin 8.1.2013

HT

 

Giao thừa

 S4560005

Mở toang cánh cửa sổ để làn hơi lành lạnh ùa vào, khói pháo xộc vào theo, thơm nức. Cả một bầu trời nở rộ pháo hoa, trăm hồng ngàn tía, hình dáng muôn màu, như những nụ hoa, như những cái nấm, những cái nón… tung lên trời muôn sắc… Dưới hè đường thì trẻ con hoặc những người dát hơn chơi những tràng pháo lẹt xẹt, loè xoè… Khắp nơi mọi người đổ xô ra đường đón chờ thời khắc cảm động nhất của một năm này. Tiếng chúc tụng, tiếng cụng ly, tiếng nổ chai sâm banh… rạo rực.

Cả một không gian nao nức..

Berlin từ cả tuần nay đã ấm lên nhiều, không khí khô ráo dễ chịu. Nền trời sáng trong. Xa xa ở trên cao là vầng trăng treo bình thản nhìn xuống những sôi động trần gian.

Thiên hạ mải mê…

Có tin nhắn chúc mừng năm mới của cô em. Trong muôn ngàn những lời chúc tốt đẹp chúc thị nhận được thường hay có chúc nhiều nghị lực. Nhưng mà nhiều nghị lực để làm gì. Để răng cắn vào môi sao cho khỏi bật máu ư? Để đêm đêm ngủ cho được một giấc trọn vẹn? Hay để cười sao cho nước mắt không trào ra khỏi viền mi?… Làm sao một người đàn bà mà cứ phải có nhiều nghị lực thế?

Nhiều khi thị cứ ước sao cho mình là một người đàn bà đừng có nghị lực mà có được một người đàn ông của đời mình để mà khỏi phải cả một đời lên gân lên cốt, cả một đời khốn khổ khốn nạn, để mà dù vất vả mấy thì khi đau cái tay, cái lưng có người đấm bóp cho, có một người để mà dựa vào mỗi khi tâm hồn rời rã, hoang mang…

Nhiều khi thị cứ nghĩ mãi, liệu một người đàn bà có nghị lực nhiều có hẳn là điều hay không? Chẳng biết nữa. Thị biết hẳn nhiều người như thị là bị đẩy vào trường hợp phải có nghị lực rồi lâu dần thành quen mà trở nên người có nghị lực „mãn tính“. Bạn bè thị thiếu gì những trường hợp tương tự như vậy. Ít có trường hợp nào tự nguyện có nghị lực cả mà toàn do hoàn cảnh đẩy họ hay nói một cách đẹp hơn là do rèn luyện mà trở thành những người đàn bà có nghị lực.

Được tiếng khen thì ho hen chẳng còn“. Các cụ nói cấm có sai câu nào.

Tất nhiên được làm những việc mình thích, được lao động quả là một niềm vui lớn nhưng để mức quá sức thì quả khó có thể mà là một niềm vui được nữa.

Nghị lực là phải do mình mong muốn cơ thì nó còn mang ý nghĩa tích cực chứ đây toàn là „Cực chẳng đã“ thì mệt mỏi ghê gớm. Điểm lại những khuôn mặt bạn bè thân thiết sao mà thị thấy chán nản quá. Đứa thì hì hục cày ngày cày đêm, ba bốn jobs đến cạn cả hơi sức để lo cho chồng con sang, đứa thì cả một đời cho cha mẹ anh chị bây giờ như cái xác ve, đứa thì khốn khổ vì chồng cờ bạc giai gái, suốt ngày lo ghen tuông, đứa thì ăn mắm mút dòi cả một đời không dám tiêu đồng nào thì con nó lớn lên nó phá hộ… đứa thì chỉ lo đối phó với nhà chồng rồi mưu mẹo, chức quyền đến rạc cả người để rồi về hưu…Những nghị lực ấy xét cho cùng để làm gì, có thực sự hữu ích trong cái kiếp người hữu hạn này không?

Tất nhiên cũng có những niềm hạnh phúc thấp thoáng đâu đó… Hạnh phúc trong thương đau.

Ngoảnh lại thoắt cái những năm tháng tươi đẹp của đời mình đã trôi qua từ bảy mươi đời, đứa trẻ nhất cũng đã xấp xỉ năm chục, còn thì sáu mươi đến nơi cả rồi với một tài sản bệnh hoạn ốm đau, sầu não, gặp nhau là than van triền miên…

Chao ôi là cái nghị lực! Cái nghị lực trong đời một người đàn bà là phải nỗ lực liên tục và dường như là bất tận…bởi „Những sọt buồn cứ chất cao lên mãi, ảo giác về sự nghỉ ngơi chỉ là sự khôn cùng“*

Bầu trời trên kia vẫn trăm hồng ngàn tía, vẫn pháo hoa sáng bừng từng khoảng trời, thiên hạ vẫn vui, vẫn chúc tụng…

Thị kéo cổ áo lên cho đỡ lạnh và dưới kia bên gốc cây dẻ gai thị vẫn như thấy gã ở những giao thừa năm xưa chạy tới chạy lui đốt pháo, châm ngòi chỗ này rồi hò hét chỗ kia, mặt mũi hớn hở khi ôm hàng ôm pháo về. Ôi cái động lực lớn lao cho những nguồn nghị lực của thị.

Khép cửa lại, thị thấy lòng mình khép dần với quá khứ. Một quá khứ đầy nghị lực và chông gai. Thị ước sao cho một năm mới tới cho thị, cho bạn thị, cho chị em thị nói riêng và cho đàn bà nói chung không phải sử dụng đến nghị lực nhiều lắm mà vẫn được an bình và hạnh phúc. Một dòng nước có cần đến nghị lực đâu mà nó vẫn xói mòn những gì nó chảy qua đó thôi. Thôi lại lan man sang chuyện nước nôi, mệt quá đi.

Pháo đã vãn dần đây đó còn vài tiếng nổ như muốn kéo dài thêm những thời khắc này. Nhưng khói pháo vẫn mờ mịt khắp nơi và ngày mai chắc xác pháo sẽ còn phủ hồng mỗi bước chân qua…

Giao thừa 2012/2013

*Thơ NTHN

Kính tặng cô Nguyễn Thanh Hiên với lòng biết ơn sâu sắc và thân tặng tất cả các bạn 10B Trần Phú để kỷ niệm 40 năm sơ tán của chúng ta.

 

Cô kính yêu!

 

Thưa cô, em viết thư gửi cô đây khi ngày Lễ Hiến chương các nhà giáo của năm nay đang đến gần. Cũng thời gian này đây của bốn mươi năm trước là lớp mình cùng cả trường Trần Phú đi sơ tán B52 đây cô nhỉ. Và cũng chỉ hai năm nữa thôi là bọn em tốt nghiệp ra trường đúng bốn mươi năm đây cô ạ.

Em viết thư gửi cô đây trong một sáng chủ nhật khi trời Berlin thu đã tàn và đã chớm vào đông. Trời đã bắt đầu lạnh, cây cối rụng gần hết lá vàng rồi chỉ còn trơ lại những cành khô khẳng khiu trên nền trời xám bạc của những ngày mưa dầm hay những ngày trời xanh ngăn ngắt một màu vời vợi… Mùa thu đã qua. Mùa thu châu Âu rất đẹp và buồn cô ạ. Em đã ở đây gần ba mươi mùa thu.

Em viết thư gửi cô mà lòng em như lạc vào những năm tháng xưa, ngày ấy đã cách đây bốn chục năm rồi cô nhỉ, những ngày sơ tán xưa, xa lắc … trên Thạch Thất xa xôi, những ngày mà cô và chúng em đã có những năm tháng ghi dấu bao kỷ niệm, những kỷ niệm cả một đời chẳng thể nào phai mờ.

Khi ấy chúng em là những học sinh của cô, những đứa trẻ xa nhà, xa gia đình, bố mẹ, mới chập chững vào đời được cô yêu thương và săn sóc, được cô nâng giấc từng bữa ăn, giấc ngủ, buổi học… Những đứa con mà cô yêu thương bằng tất cả tấm lòng của một người mẹ hiền, của một cô giáo, một nhà sư phạm yêu người, yêu nghề và mẫu mực… điều mà giờ đây, đáng tiếc, không phải là một sự đương nhiên nơi các thầy cô giáo.

Càng lớn tuổi chúng em càng hiểu và thấm thía điều ấy cô ạ và em cũng biết chúng em đã hạnh phúc biết bao khi có cô là cô giáo chủ nhiệm những năm tháng cuối cùng của đời học sinh, rồi tốt nghiệp, ra trường và bay đi khắp các phương trời, để rồi „Lớn lên mỗi người mỗi ngả“ trên mọi nẻo đường đời… Những năm học cuối cùng của phổ thông chúng em còn có những thầy cô vô cùng tận tụy như thầy Ban dạy Toán, thầy Thành dạy Sinh, thầy Hoài cô Chung dạy Sử, cô Tuyết Anh, cô Xuân dạy Nga, cô Hoan dạy Lý, cô Cầu dạy Hoá, thầy Hiển thầy Thăng dạy Văn… các thầy cô nay có người chúng em chẳng bao giờ còn được gặp lại nữa, thời gian chẳng chờ đợi ai…. Nhưng tựu trung, để lại cho chúng em nhiều tình cảm nhất và nhung nhớ nhất vẫn là cô vì cô chủ nhiệm lớp chúng em và vì những ngày tháng đi sơ tán theo trường này.

Vậy mà cô biết không, có một lần em cùng các bạn đến thăm thầy Ban sau cả ba chục năm trời từ khi tốt nghiệp. Nghĩ thầy quên em, em có hỏi thầy „Thầy còn nhớ em không ạ?“. Thầy không trả lời em và các bạn, thầy đi lên gác rồi xuống ngay và đưa cho em một tấm bưu thiếp đã úa màu thời gian, rồi thầy nói „Tôi không nhớ, không biết có phải của cô học trò này không?“. Thưa cô, đúng là phong cách của thầy và em đã cảm động đến ứa nước mắt vì thầy vẫn giữ tấm thiệp này ngày em mới sang CHDC Đức học, gửi về cho thầy (mà chính em cũng không còn nhớ nữa cô ạ), nét chữ còn vô cùng non nớt… và cũng còn vì em biết, mình được ghi dấu ấn trong lòng thầy cô mình. Rồi em cứ tự hỏi mình, sao thầy để tấm thiệp đâu mà có thể thấy ngay như vậy mà mang xuống, cứ như thầy để ngay trên bàn làm việc của mình vậy?

Thưa cô, bao giờ đứng trước cô, em cũng luôn nhớ đến mẹ em bởi sự giống nhau ở vẻ đẹp dịu hiền, trang nghiêm, phong thái đoan trang, nhã nhặn, lịch thiệp… và hơn hết là tấm lòng cô đối với học sinh. Mẹ em hoạt động trong ban phụ huynh cô nhỉ nên cô và mẹ em gần gũi nhiều. Rồi mẹ em mất khi em đang học ở nước ngoài, ngày ấy làm sao mà về được. Cô đã cùng bao bạn bè thân thiết của em đưa mẹ em đến nơi an nghỉ cuối cùng. Tình cảm cô đối với em ân tình biết bao nhiêu. Bố em khi sinh thời cảm động nhắc mãi cô ạ.

 

Thưa cô, trong cuộc đời đã có những lần em ngã lòng tưởng chừng không thể đứng dậy nổi. Những khi ấy hình ảnh của bố mẹ em và cô luôn là nguồn động viên em.

Cô chưa bao giờ to tiếng với chúng em dù là giận mấy đi nữa. Cô luôn dịu dàng và bảo ban chúng em tận tình như một người mẹ hiền. Những giờ lên lớp của cô luôn là niềm vui của chúng em với môn Địa lý. Cô đã thổi vào hồn chúng em niềm yêu môn Địa lý mà không phải dễ dàng thích được. Có phải chăng vì tình yêu với cô, với môn Địa lý của cô mà sau này em đã lang thang biết bao nhiêu ngõ ngách trên thế giới để thỏa lòng thăm thú những vùng đất lạ với mình.

 

Thưa cô, gần ba mươi năm sống xa VN và thêm mười năm sống xa Hà Nội em thường nằm mơ thấy những ngày xưa cô ạ và khi nhớ đến những ngày tháng ấu thơ, những ngày tháng êm đềm khi còn bố mẹ nơi con phố vắng lặng đêm đêm hoa sữa nồng nàn trải thảm trên mặt đường… em luôn nhớ đến cô, cô giáo hiền dịu của em, của chúng em trong những năm cuối của phổ thông, nhớ đến những kỷ niệm của 9B và 10B Trần Phú với bạn bè thân thiết.

Thưa cô, trong bốn chục năm xa Hà nội, xa hết những ngày xưa xa xôi, những ngày xưa thân ái, „Những chiều mưa gió giăng khơi, biết bao là nhớ tơi bời“ ấy, Hà Nội chưa bao giờ xa trong em. „Những từ sen ngó đào tơ…“ đến giờ, đến cái tuổi đã bình tĩnh mà chiêm nghiệm thế nhân với quy luật muôn đời của nó, đã bình thản với những thăng trầm, cay đắng, thành, bại… chưa bao giờ Hà Nội thôi thổn thức trong em cô ạ. Bọn em giờ đã hơn tuổi cô ngày ấy nhiều, những năm tháng mà cô với nón trắng, áo trắng  đạp xe dưới những hàng hoa bằng lăng nở tím ngát để đến trường đứng trên bục giảng lên lớp dạy chúng em hàng ngày.

Càng ngày em càng nhớ Hà Nội hơn, yêu Hà Nội hơn dù em biết Hà Nội đã thay đổi nhiều, chẳng còn là Hà Nội của những ngày xưa đó nữa nhưng âu là cũng phù hợp với quy luật thôi mà. Như em cứ nói đùa với các bạn rằng tình yêu thì làm sao mà lý giải được. Yêu là yêu, thế thôi. Đời sống tình cảm con người ta luôn là một miền bí ẩn không dễ gì dùng lý trí mà phân định rạch ròi được cô nhỉ.

 

Thưa cô, khi ấy chúng em là những đứa trẻ đang tập làm người lớn, đã có bao điều chúng em giấu cô ngày ấy, em biết là có nhiều điều cô biết và không như những nhà sư phạm „kinh điển„ „mô phạm“ khác, cô đã rất tôn trọng chúng em và yêu thương chúng em biết bao nhiêu. Cô hiểu và tôn trọng những cảm xúc „kỳ lạ“ đầu đời của bọn em, những cảm xúc thánh thiện ấy. Những tình yêu non nớt đầu đời, những tình cảm thanh sạch của cái thời mà „…Trăng mới cuồng si, nụ bán khai…“ ấy đã cứu vớt em bao lần trước những ngập lụt đắng cay của cuộc đời.

 

Thưa cô, không hiểu sao những tháng ngày sơ tán ấy để lại trong tâm khảm em những kỷ niệm vô cùng sâu sắc. Cô ơi, sau này, trong những năm tháng lênh đênh trên nhiều nẻo đường của thế giới mênh mông này, đã có những lần em chợt bàng hoàng, thảng thốt và dừng bước giữa phố đông người của những đô thị lớn châu Âu vì thoảng qua em một mùi thơm khói rơm rạ như khi xưa, khi bếp chiều đỏ lửa, bóng tối dần buông… của những tháng ngày sơ tán ấy cô ạ.

Trong tâm trí em, con đường về Hà Nội có khúc đường quanh quanh hai bên là những cánh đồng bạt ngàn mía, có một cây cầu cũ đã gẫy vài nhịp với cái lô cốt cô độc trên đê trong những chiều đông giá rét được đạp xe về thăm nhà…là những kỷ niệm chẳng dễ gì phai mờ trong đời người. Rồi trong cái nhập nhoạng tối chiều nào khi mà lũy tre trên đường làng chỉ còn là những hình thù quái đản, lúc gặp các bạn đi đón em đi thăm TU của lớp C ở làng bên về thì em đã gần té xỉu vì sợ hãi khi phải qua cái giếng nghe đồn là có ma.

Rồi những buổi đi lao động mà không hiểu sao em lại rất nhớ là chỗ để cuốc xẻng thì lại ở làng khác, đến những con đường làng quanh co, những phố chợ hắt hiu trong những chiều buồn quạnh quẽ, đến những buổi tắm ngoài sông cùng với trâu bò và lạnh khủng khiếp cho những nữ sinh Hà Nội chưa một lần xa nhà phải quây nilon trên bờ mà gió thổi thông thống, cái gió mùa Đông Bắc lạnh cắt ruột, rồi những lần cả bốn đứa chúng em núp dưới phản tránh bom mà trong gầm đầy khoai lang của bác chủ nhà thì đã có vài ba con cóc cụ rúc trong xó trố mắt nhìn chúng em, hoặc giả rúm ró núp dưới cái thuyền thúng gác trên phản vì tin rằng tránh được bom bi chẳng hạn…

Đến những tháng ngày đói ăn, đến những lần đi bộ sáu, bảy cây số ra tận Quán Gạch ngoài đường quốc lộ chỉ để được ăn một bát miến, đến những cơn đói gần xỉu mấy đưa bọn em phải bò trên cầu khỉ sang sông để sang làng khác mua sắn ăn rồi say sắn ngất ngư. May mà có chú em lên thăm  đúng khi đó và chúng em đã được một gói kẹo Hải Châu (là một điều vô cùng xa xỉ hồi ấy) cứu bọn em thoát cơn đói, đến những buổi tối đi lấy cơm mà vừa ăn vừa khóc vì cơm đã độn đầy ngô mà còn sặc sụa mùi dầu hỏa vì các cô cấp dưỡng không chuyên nghiệp…

Và cô ơi đến một bạn lớp trên – con một nhà thơ rất nổi tiếng- đã „tán“ em bằng đúng những câu thơ mà em yêu thích „Tôi có chờ đâu, có đợi đâu..“ bên một khung cảnh chẳng hề thơ tí nào với nồi cơm độn ngô sặc mùi dầu hoả và cá khô mốc xanh mốc đỏ kho mặn chát (vậy mà có bạn nam còn „lấy cắp“ cho cả vào ví về ăn cơm với nhau vì đói quá đấy cô ạ)…

Thưa cô, đến giờ, sau bao năm tháng thăng trầm của cuộc đời, em vẫn giữ một mẩu giấy nhỏ với dòng chữ „Я ОЧЕНЬ ЛЮБЛЮ ТЕБЯ“ với bao nhiêu những kỷ niệm thân yêu khác của gia đình và bè bạn và em mãi vô cùng trân trọng những cảm tình sâu đậm ấy. Thưa cô, khi bằng tuổi này rồi, cô cho chúng em được thổ lộ với cô „Có những niềm riêng một đời giấu kín“ này nha cô.

Và đặc biệt nhất là ngày 1.1.73 vui mừng khi có Hiệp định Đình chiến, em và ĐT là những người cuối cùng về Hà Nội. Chúng em cuốc bộ ra đường chính và bắt xe buýt về. Từ đó đến Cầu Giấy, trên xe chỉ đứng được một chân vì đông khủng khiếp, chen lấn mà hình như bọn em lại không có tiền nữa thì phải cô ạ. Sau đó, họ thả xuống và hai đứa lại phải đi bộ qua cả thành phố để về nhà. Sẽ chẳng bao giờ em quên được mùi tử khí ở Khâm Thiên sau trận rải thảm B52 và cảnh người người vẫn còn đào xới tìm những người mất tích dưới đống đổ nát khi em đi qua, những tiếng khóc lạc thần, những khuôn mặt ngơ ngác vì bất hạnh ập đến… Cô ơi đã bốn chục năm mà em vẫn nhớ như mới hôm qua cô ạ.

Bọn em sau này, kẻ còn người mất, nhưng mỗi lần gặp gỡ là một lần ký ức bị bao phủ bởi thời gian lại như được sống lại. Chuyện vui nhiều mà cũng nhiều hối hận cho bao chuyện làm cô phiền lòng, nhất là các bạn nam cô nhỉ. Nghịch ngợm đủ trò, hút thuốc lá (ngày ấy là ghế gớm lắm cô nhỉ), trốn về Hà Nội một đêm để sáng sớm lại mò lên sơ tán, hình như còn gây sự cả với thanh niên ở làng nữa thì phải… Em nhớ mãi có lần cô đã phát khóc trước lớp vì bạn nào đó phá quấy mà cô nói mãi không được. Nhưng em biết cô rất thông cảm vì cô biết nỗi nhớ Hà Nội đã hành hạ chúng em quay quắt thế nào và cô cũng biết chúng em là những học sinh ngoan và tình cảm, chỉ hơi hiếu động tí thôi.

Những ký ức ấy ám ảnh em suốt những năm tháng xa quê hương, những tháng ngày với nỗi sầu viễn xứ khôn nguôi. Bởi đó là những năm tháng tươi đẹp, vô tư lự, hồn nhiên và trong veo của thời hoa niên. Những kỷ niệm trong sáng của cái thuở ban sơ, thuở bình minh của cuộc đời nhiều khi theo ta mãi, nó nâng đỡ ta những khi lạc nẻo trong đường đời đầy cạm bẫy và bất trắc cô ạ…

Thưa cô, em luôn vui và hạnh phúc mỗi khi về được gặp cô vẫn khoẻ mạnh. Cô vẫn nhớ chúng em, mà lạ thay với tuổi tác của mình mà cô vẫn nhớ biết bao chi tiết nhỏ của những ngày ấy.

 

Thưa cô, lũ chúng em, bạn bè ngày ấy bây giờ đã „Tuyết sương bạc nửa mái đầu“ rồi nhưng mỗi khi gặp nhau, vẫn vui như xưa, những kỷ niệm, hồi ức và những lo toan đời thường vẫn cùng nhau chia sẻ. Khi đấy, những dị biệt xã hội, tính cách.. mà nếu có đã không còn chỗ đứng nữa cô ạ. Chúng em bỏ lại sau lưng bốn chục năm xa cách, chỉ còn lại những giờ phút vui vẻ, hàn huyên, nghịch ngợm của những thằng bé và con bé học sinh của cô mà thôi, cái thuở tinh khôi trên ghế nhà trường.

Em hạnh phúc về bạn bè thân thiết của mình. Cô ơi, cô biết không, cuộc sống với bao bộn bề của nó, cái cô đơn khi giữa một biển người nhân thế vẫn khó lòng tìm được tri âm, tri kỷ thì kỷ niệm về những giờ phút bên bạn bè vui đùa của những lần „..Vội vã trở về, vội vã ra đi„ „Mỗi khi lòng xác xơ“ ấy đã luôn sưởi ấm cho em trong những tháng năm dằng dặc của cuộc sống „Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương- Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, cúi đầu nhớ quê xưa“ này cô ạ. Bởi tình bạn thời học trò nó vô tư, trong sáng và hồn nhiên biết bao.

Bọn em, NM, DH, TH A và em mỗi lần đến thăm cô đều cho con gái chúng em đi cùng, đến thăm cô để cô biết sự trưởng thành của chúng em và cũng là để con cái chúng em thấy được tình yêu thương và kính trọng của chúng em với thầy cô giáo cũ của mình và như vậy những giá trị truyền thống tốt đẹp sẽ được tiếp tục mãi, thế hệ nối tiếp thế hệ.

Và con cái chúng em chúng là bạn của nhau, giúp đỡ nhau, thân thiết với nhau… chơi như bố mẹ chúng nó đã chơi với nhau khi xưa và kể cả bây giờ.

Dù gặp nhau ở Hà Nội hay Sài Gòn, ở London, Berlin hay Singapore, dù từng nhóm nhỏ thân thiết đi du ngoạn hay những buổi họp lớp đông vui, dù là quan chức của chính phủ, dù thành đạt nhiều ít khác nhau… hay dù chỉ là một chiếc đinh ốc nhỏ nhoi trong cả guồng máy xã hội thì trong chúng em- mới ngày nào là những nam thanh nữ tú mà bây giờ tóc đã bạc màu thời gian- luôn có những tháng ngày thơ ấu ấy, luôn nhớ đến cô, đến những lời, những điều cô dạy dỗ chúng em khi chập chững vào đời để nên người, để cô có thể tự hào vì chúng em.

Thưa cô, cô có biết không? Ngày em được Tổng thống Cộng hòa Liên Bang Đức vinh danh trao tặng Huân chương cũng như khi ở Tòa Thị chính Đỏ được nhận giải thưởng của Berlin thì cùng với bố mẹ và gia đình em, em đã nhớ đến cô. Và em biết cô sẽ rất tự hào về chúng em trước mỗi thành công dù là nhỏ nhoi trên đường đời cô nhỉ. Chắc cô rất vui vì cô như nhìn thấy những hoa thơm, trái ngọt mà từ những ngày xưa ấy cô đã gieo hạt và nay chúng đã nảy mầm, đơm hoa kết quả.

 

Thưa cô, cô biết không, có lần em đã thầm ghen tỵ khi thấy cô cũng vẫn nhớ các bạn lớp khác của những khoá khác bởi lòng em luôn muốn cô chỉ yêu và nhớ chúng em thôi. Vớ vẩn cô nhỉ. Sáu mươi đến nơi cả rồi mà chúng em chả khác những cậu bé, cô bé ngày xưa cô chủ nhiệm bao nhiêu. Hay càng già chúng em lại trở về với tuổi thơ bé hở cô?

 

Vì rằng, dù chúng em già đi bao nhiêu đi chăng nữa thì với cô, chúng em luôn và mãi mãi ở cái tuổi 15, 17 ấy mà thôi. Em luôn và chỉ mong được dụi đầu vào cô như xưa kia trên sơ tán mỗi khi nhớ nhà quá, những chiều hoang vắng, đìu hiu khi chờ bóng tối tràn đến với ngọn lửa heo hắt của cây đèn dầu ngoài hiên nhà mà nhớ Hà Nội đến thắt lòng, ….

 

Vừa rồi, khi thấy các bạn rủ nhau trên mạng là đi thăm cô hôm này đây. Vui quá vậy mà em không về được để đi cùng các bạn như năm nào. Em viết những dòng này đây để gửi cô, để cô biết dù có ở đâu, có đi đến tận chân trời nào thì chúng em, em vẫn luôn nhớ đến cô với cả tấm lòng biết ơn và tình yêu sâu sắc của học sinh yêu kính cô giáo cũ của mình, như của một đứa con với cha mẹ đã cả một đời yêu thương, dạy dỗ, mong muốn mình nên người.

Chúng em hạnh phúc và tự hào vì có cô trong đời và được cô dạy dỗ những năm tháng cuối cùng của phổ thông, dìu dắt trước ngưỡng cửa bước vào đời. Và em biết, cô cũng hạnh phúc và tự hào về chúng em, cô kính yêu, có đúng không ạ! Em nhìn thấy điều ấy trong ánh mắt lấp lánh cảm động của cô mỗi lần em bấm chuông cửa và trong ngõ hẹp, sau cánh cửa sắt là cô của chúng em hiện ra…

“Hoài Thu về đấy hả em? Con gái có về không em?“

Em lại muốn khóc và ôm chầm lấy cô đây này…

Berlin 18.11.2012

Hoài Thu

Gần hai chục năm làm việc trong tù, mình có biết bao chuyện bi hài, vui buồn để kể. Kể ra đây vài chuyện nho nhỏ, nghe chơi.

1. Trưa nay, lúc đi từ tầng nọ sang tầng kia trong tù thấy một trung niên phạm nhân toe toét từ xa. Lại gần, không rõ gã người nước nào, có lẽ A-la-bể (Ả rập) thì phải. Ấy là đoán vậy do ngoại hình của gã. Mình nghĩ chắc gã nhầm với ai. Nhưng không. Thấy gã chõ vào tận mặt hỏi, bà là người Trung Quốc à, hay người Nga (chả hiểu mắt mũi nhìn ngó thế nào). Mình lắc đầu, trả lời, tôi là người Việt Nam nhưng cũng chẳng hy vọng gã biết Việt Nam ở đâu.

Quá ngạc nhiên khi thấy gã hỏi thế bà ở đâu ở Việt Nam? Hà Nội à? Hay Sài Gòn, Nha Trang, Hội An, Sa Pa, Huế… gã làm một tràng rất vui vẻ. Quản giáo kéo đi rồi mà vẫn còn ngoái lại… Hay Mũi Né? Đẹp, đẹp lắm!

Hơi ấm lòng khi biết Việt Nam đẹp trong con mắt „bè bạn năm châu“!

2. Một sáng vừa bước chân vào tù đang uể oải nghĩ sao cho hết một ngày „đi tù“ đây thì bỗng nghe một giọng hát Việt, nam trung, cực ấm „Nổi lửa lên em, nổi lửa lên em..“ hừng hực đầy khí thế từ sau một bức tường vọng lại. Đằng sau đấy là sân dạo chơi của phạm nhân. Bài hát và giọng hát yêu đời, yêu người… đã xoá tan bao những mệt mỏi và lăn tăn… của mình.

Thật ấm lòng! Tâm trạng khác nào khi „…Giữa Mạc Tư Khoa tôi nghe câu hò ví dặm… Ôi câu hò xứ sở mà thắm đượm tình quê..“.

Tác dụng của âm nhạc ghê thật.

3. Một hôm trước buổi thẩm vấn phạm nhân mới vào để làm thủ tục nhập trại. Gặp một phạm nhân khá lớn tuổi. Cụ thể bao nhiêu thì mình không thể đoán được vì cái sự mặn muội lam lũ của những người nông dân miền Trung rất khó đoán tuổi.  Vừa gặp thấy anh rất vui tươi, hỏi như thân quen từ kiếp nào :

– Cô khoẻ không? Anh mới sang, đã đủ „vé“ đâu thì bị bắt cô ạ. Mình ngạc nhiên quá vì cách xưng hô thân mật vì chưa hề gặp anh ấy bao giờ. Đang lúng túng chưa biết trả lời sao thì thấy anh hỏi tiếp:

– Thế cô ở đây lâu chưa?

– Dạ, thưa, ở nước Đức này thì đã lâu còn trong tù thì mới từ sáng nay anh ạ.

Mình trả lời anh ấy rất lễ phép. Anh ấy tròn xoe mắt và gục gặc đầu ra ý là có hiểu…

4. Những năm tháng thập niên 90, tình hình căng thẳng vô cùng. Lượng người từ khắp các nơi đổ đến nước Đức như một miền đất hứa nhiều vô kể. Và tình trạng tội phạm của cộng đồng người Việt cũng kinh khủng. Đặc biệt là lợi nhuận của việc bán thuốc lá đã khiến những vụ chém giết giữa các băng đảng người Việt gia tăng và liên tục có mặt trên mặt báo. Hôm nay sáu người bị giết trong „vôn“ (khu tập thể), ngày mai lại ba, bốn người bị quẳng xác ngoài ga tàu, tuần sau tìm thấy xác người này người kia… bị chôn sống trong rừng…

Có lần sau một đợt nghỉ phép về làm việc lại. Gặp lại em phạm nhân kia, rất quan tâm mình hỏi thăm, thế chị nghỉ cả tháng, vụ em xử đến đâu rồi. Thì thấy em phạm nhân đó tỉnh bơ bảo „Chưa xong chị ạ, chắc cũng sắp xong thôi. Nhưng mà em sợ quái gì, em giết có một người thôi mà?!“

Hoảng hồn, mình không nói thêm câu nào nữa.

5. Cũng đã lâu rồi, dạo mà vụ chém giết còn hàng ngày hàng giờ căng thẳng thì có lần mình dịch một vụ thẩm vấn khi nhập trại. Chưa vào đến phòng đã nghe chú phạm nhân ấy kêu la oan ức. Mình phải bảo, tôi chỉ là phiên dịch thôi, không có ý nghiã gì đâu, anh hãy trình bày với cảnh sát này này. Nhưng thấy phạm nhân này nói với tôi là em nói rồi mà ông cảnh sát này không tin em chị ạ.

Hỏi sao, thì được chú ấy kể là vừa mới sang Đức được có hai ngày, tìm đường đi nhập trại tỵ nạn, qua bến tàu thì gặp người Việt Nam, dừng lại hỏi thăm đường thì bị bắt.

Mình bảo vậy anh cứ khai thật thì người ta phải tin chứ, nếu đúng.

Thấy chú ấy bảo, khổ quá nhưng khi CA bắt thì trong người em lại có súng nên khi em bảo không phải em đi „thu thuế“ có vũ khí thì họ không tin em.

Mình hỏi, thế súng ở đâu ra?. Chú ấy bảo, dạ em bắt được ở trên tàu điện ạ. Ông CA ông ấy không tin, ông ấy bảo rằng cả đời làm việc của ông ấy 28 năm chưa bao giờ thấy ai bắt được súng ở trên tàu nên ông ấy không tin em.

 Mình cũng bảo chuyện ấy khó tin thật nhưng sao anh không tình thật mà khai, vì khó tin nhưng cũng vẫn có thể xảy ra chứ.

Thấy chú phạm nhân gãi đầu gãi tai, bảo dạ vâng ạ, nhưng họ còn tìm thấy trong người em một khẩu nữa chị ạ, mà khẩu này lại cưa nòng và giảm thanh?!

Tá hoả!

6. Còn không biết bao nhiêu lần, trong các cuộc thẩm vấn, khi trả lời câu hỏi „Anh bị bắt ở đâu?“, mình đã phải dịch câu trả lời của phạm nhân là „Dạ, em/tôi bị bắt trong Trung tâm Văn hoá Việt Nam?!“. Câu trả lời này thường xuyên đến mức rất quen thuộc, đến mức nhiều khi được cán bộ nhà tù trả lời hộ hay là gật gù như là một sự „nhiên dĩ nhiên“ vậy.

Không biết những phạm nhân ấy có nhầm lẫn gì giữa tên gọi/bản chất những khu chợ ấy với TTVH không? Hay đấy chính thực là các TT VH VN nhỉ?

Bực ghê!

7. Một bận, vụ hỏi cung kéo dài, mà trời mùa đông thì muộn màng, tối om. Việc chưa xong vì tình tiết có rất nhiều chuyện rối rắm mà phạm nhân nữ này cứ loanh quanh loéo quéo mãi, không xong. Thay vì thái độ thành khẩn cho công việc nhanh thì thấy chị ấy bảo mình là chị nói ông cảnh sát này „thông cảm“ để hôm khác được không vì hôm nay là ngày ông Táo lên giời nên tôi còn phải về mua bán và làm cỗ cúng?!

Buồn cười quá nhưng mình vẫn phải dịch.

Nhưng cũng rất nhiều chuyện mà có khi vừa dịch mình vừa phải nuốt nước mắt vì cảm động. Kể không thể hết được. Chỉ biết cay đắng, cơ cực và tủi nhục vô cùng thân phận của những kiếp người phiêu bạt.

Berlin, 11.2012

Nửa đêm

 

„Đ. mẹ mày có câm đi không thì bảo?“ -Tiếng đàn ông có vẻ lớn tuổi quát lên.

„Tao đ. câm đấy, ăn l. tao đây này!“, giọng nữ trẻ trung, thanh thanh nhưng đã bị sự tức giận làm cho méo mó đi.

„Mày nói lại xem nào“. Một tiếng bốp. Tiếng xô đẩy. Tiếng kèn kẹt của vật nặng gì đó không xác định như thể túi, bao gì lê trên sàn.

„Mày đánh đi, đánh đi, tao sợ đ. gì mày“.

 

Im im một lúc lại thấy du đẩy nhau vào nhà, bây giờ thì đã thấy xưng hô với nhau là tôi và chú, nên tôi đoán là có quan hệ sao đó. Nhưng vẫn đang trong cao trào.

 

Được một tí có vẻ im im vì tôi nghe không rõ, rồi lại ầm ầm tiếp bằng thứ ngôn ngữ đó. Có gì đó bất như ý với nhau giữa hai người xưng tao mày, tôi và chú, con này, thằng này… và các từ ngữ về các bộ phận thân thể được che kín hàng ngày được lôi ra hết, rất phong phú và sáng tạo với một cường độ nhanh, gấp và tần số âm thanh cao, to. Con

 

Cứ như vậy mà ầm ầm khoảng mươi phút nữa, bất kể là đã nửa đêm. Hàng phố vắng lặng. Chỉ có tầng trên nhà tôi là vẫn ầm ĩ, điều mà tôi từ gần ba chục năm ở Đức này chưa bao giờ chứng kiến.

 

Cái việc mà những gia đình người Việt karaoké nửa đêm gà gáy, hát hò oang oang (có lần 2 giờ sáng tôi đã phải chạy sang nhà bên cạnh vì không thể nào chịu nổi nữa, mà tôi tin rằng nếu tôi không sang tận nơi hôm ấy thì chắc chỉ khoảng dăm phút nữa là ò í e xe cảnh sát đến ngay), nhậu nhẹt cãi cọ say xỉn, nhạc nhiếc tưng bừng bất kể khuya khoắt  ảnh hưởng hàng xóm láng tỏi thế nào. Hoặc khoan cắt ầm ầm vào giờ nghỉ cuối tuần hoặc nướng thịt quạt chả khói mù mịt, thơm lừng lẫy trên ban công toả ra khắp phố… bất chấp những quy đinh luật lệ nhà ở, chung sống… thì là „chuyện thường ngày ở huyện“.

 

Nhưng quả thật như hôm nay thì tôi chưa lần nào được tận mục sở thị như vậy. Hay vì đêm hôm nên nghe rõ hơn, hay vì ở nơi không ai nói tiếng Việt nên nó nổi bật lên như vậy. Chứ còn trong các khu „TT Văn hoá“ của người Việt thì đây là ngôn ngữ phổ cập, đại chúng và chủ đạo.

 Còn giữa đường phố Berlin mà có chuyện có bà đầu tóc bới cao, váy dài đến gót, lấp lánh khắp người như đi dự trao giải Oscar, trông „mệnh phụ“ lắm, mà bất như ý gì đó thấy nhảy cẫng lên, vỗ bèn bẹt vào chỗ giữa hai chân mình, mồm gào lên cho người khác ăn bộ phận ấy; hai cửa hàng tranh khách nhau đã đổ mắm tôm vào hàng kia, khiến cảnh sát đến nơi vừa bịt mũi điều tra vừa thấy thán phục „phương thức“ hành động  rất độc đáo của người Việt; rồi hai hàng rau cạnh nhau, một ông chủ quê HNN „oánh nhau“ với một „con đĩ giáo viên HN“…cảnh sát lại lần nữa phải can thiệp, hai dì cháu tranh chồng của nhau hay mâu thuẫn bán buôn gì đó túm tóc nhau, bên thì sử dụng „đả cẩu bổng thân pháp“ bên thì dùng trường côn là một cái gậy vớ đâu dọc đường, đánh lộn giữa đại lộ gần trung tâm sau một hồi khẩu chiến bất phân thắng bại… Tóm lại là rất phong phú và đa dạng, những kiểu hành xử như vậy của người Việt mình giữa nơi công cộng, bất kể còm lê, cà vạt, sam- so- nai đen bóng hay xoa- rê lóng lánh, vàng ngọc lủng liểng đầy người…

 

Nhưng ở đây là khu vực khu dân cư trong phố, ít người Việt ở. Trước kia chỉ có gia đình tôi, mãi sau này thêm dần, thêm dần người Việt mình và ngoại kiều các sắc tộc khác đến.  Berlin là một thành phố đa văn hóa mà lại.

Cái phòng trên gác nhà tôi không phải là chỗ ở cố định của một gia đình nào mà là nhà cho thuê kiểu nhà trọ, cho đến giờ thì rất yên lành… Nên đầu tiên tôi tưởng mình nghe nhầm, nhưng mà sự ầm ĩ chửi bới là có thật, vấn đề ở đây là có đúng tiếng Việt mà thôi không? Nên tôi mở khẽ cửa ra để nghe xem liệu mình nghe có đúng không. Vì cặp này xô xát, chửi bới nhau ngay trước cửa chứ không phải trong nhà nên tôi nghe rõ mồn một, dù không thấy rõ mặt.

Họ mải mê chửi nhau đến mức tôi đã mở cửa ra đứng ở chân cầu thang mà không biết. Tôi đang suy nghĩ mình nên làm gì. Can họ ư? Có thể lại bị nhẹ thì ăn chửi như vụ „Con phản động“, còn lôi thôi hơn có khi nó nện cho thì ốm đòn, già rồi lại đơn thân, chả dại. Gọi cảnh sát thì thực lòng không muốn. Hay là thôi, để nêu một tẹo nữa thôi để „bọn Đức“ nó gọi. Nhưng tôi cũng không muốn vì như trên đã nói, không muốn thêm một người đồng hương của mình dính dáng đến pháp luật nữa vì hàng ngày đã có quá nhiều chuyện đau đầu rồi.

 

Biết thế này là không vô tư nhưng vì là tiếng Việt nên tôi không muốn gọi công an nh ưng tôi sợ một gia đình Đức nào đó rất có thể sẽ gọi công an vì tội mất trật tự an ninh nhà ở. Nhưng chắc cũng như tôi, họ chưa có kinh nghiệm về việc này vì khu nhà tôi ở đã gần ¼ thế kỷ ở chính ngôi nhà này chưa bao giờ có một việc nào tương tự, dù là chỉ ầm ĩ… nên chắc họ sốc (như tôi) và chưa biết mình phải làm gì.

Chứ đây may mà họ không hiểu tiếng Việt, chứ hiểu được thì kinh khủng đến chừng nào. Cùng lắm là họ chỉ thấy to tiếng, có thêm chút tay chân thôi chứ không hiểu hết ý nghĩa của cuộc đấu khẩu này.

Nên tôi đành chọn cách gọi cho chú hàng xóm của tôi, là người quản lý khu nhà này để bảo „Em ơi sang xem thế nào, chứ thế này nữa là cảnh sát nó ò í e“ bây giờ đấy, mình không gọi nhưng bọn Đức nó gọi đây em ạ.“

Chả hiểu chú ấy có động thái gì không nhưng phúc bảy mươi đời là chỉ khoảng dăm phút nữa là „trật tự đã được vãn hồi“, không kèn không trống.

 

Một lúc sau khi im im, ước chừng họ đã vào thì tôi thấy tiếng bình bịch của tiếng chân đi xuống. Tò mò xem ai là tác giả của vở kịch nửa đêm này tôi ngó ra thấy đó là một cô gái người lạ khoảng mười mấy, hai mươi tuổi, xinh xắn, nhẹ nhõm từ trên tầng trên xuống. Nếu không thực sự chứng kiến hẳn khó có ai tưởng tượng được đây là một trong hai diễn viên chính của vở kịch vừa rồi.

 

Ngẫm nghĩ mãi vì sao những lời „có cánh“ ấy lại có thể phát ngôn từ một cô gái trông rất nền nã cũng có vẻ có ăn có học như vậy. Và người đàn ông kia làm gì để cô gái ấy tuôn được ra những lời ấy với người lớn tuổi như thế… Vì sao, vì sao và? vì sao

 

Ồ, mà đời biết bao nhiêu việc phải vì sao thế này chứ. Ngủ thôi.

 

Hãi nhất là ngày hôm sau tôi được biết họ là hai chú cháu ruột, nghĩa là người đàn ông đấy là em ruột của bố cô ta!

Berlin, Juli 2012

Tặng Chu Diệu Oanh

 

Đài phát thanh Thái Nguyên này cao một mét sáu lăm, chân dài miên man, da trắng hồng, mịn màng, tóc mượt… Nói tóm lại là nếu ra đời muộn hơn khoảng hai chục năm thì đảm bảo thị này sẽ đi thi hoa hậu đại diện cho tỉnh của mình và chắc chắn giật giải như bỡn. Mà thiếu gì hoa hậu thời nay nếu bỏ son phấn ra chắc gì đã bằng thị, đấy là thấy ai cũng nhất trí vậy.

Thị nổi tiếng là đài phát thanh bởi thị nhiều thông tin, tất nhiên là cả hư, cả thực, cả vui cả buồn, cả sai cả đúng… Nhưng mà quan trọng gì. Đài là phải nhiều thông tin. Gạn lọc là việc của thính giả chứ không phải việc của nhà đài. Đúng không nào? Và đài phát thanh là bởi thị ngồi một chỗ, à đứng một chỗ, mà chuyện nhân tình thế thái, chuyện nhà thằng A thế này, con B thế kia thị đều rành cả. Đó là còn chưa kể đến thị có một biệt tài là kẹp cái di động vào dưới tai còn hai tay rảnh rang xào mì, nấu nướng để “buôn” hàng tiếng đồng hồ không biết mệt.

Ai đi qua quán nhà thị bất cứ lúc nào đều thấy “bác sỹ” CDO vừa vung hai cái đũa, hoặc cái xẻng nấu, vừa ngoẹo đầu thao thao bất tuyệt. Gọi là bác sỹ không chỉ vì thị mổ xẻ phân tích các chuyện rất kỹ lưỡng mà cái chính là vì cái mũ nấu của thị lúc nào cũng trắng lốp, như của những người hành nghề y vậy. Mà cái quán ăn nhanh của thị cũng sạch như lau như ly bởi cứ rảnh tay là thị lại lau lau chùi suốt, không ngồi yên hay đứng yên bao giờ. Quán ăn Cộng mình mà lại sạch sẽ như bệnh viện thế này là rất hiếm ấy chứ. Chưa bao giờ thị gặp vấn đề với bọn kiểm tra vệ sinh cả, cái bọn mà dân làm quán nghe đến tên là run cầm cập.

 

Thị quê ở thành phố gang thép nhưng với mình là thị ở xa thật xa dù bây giờ đường xá từ Hà Nội lên đấy không mấy hồi. Ô tô thoắt cái đã tới nơi rồi. Ngày xưa thì có được cái xe đạp là phúc rồi mà nay tuột xích, mai sang vành… Đi xe đạp mà tay chân mặt mũi lúc nào cũng nhọ nhem nhọ thỉu cả, lên nhà thị đi thậm chí hết cả ngày ấy chứ vì vừa đi vừa chữa xe và nấp máy bay. Thế mới biết cái phương tiện giao thông nó đóng vai trò quan trọng ghê lắm, trong đời sống con người.

Nói đến đây mình lại nhớ đến ngày xưa (lại ngày xưa), kẽo kẹt tàu liên vận, đến gần nửa tháng mới đến Berlin. Từ Hà Nội đến được đây phải đằng đẵng từ Nam lên Bắc, từ Đông sang Tây, qua bao nhiêu quốc gia, cảnh sắc, đường đất … Bây giờ đùng một cái (đùng tức là ngồi trong máy bay khoảng hơn nửa ngày giời) đã đến nơi. Không còn lãng mạn tí nào cả.

Hồi Bảy Hai, vụ mười hai ngày đêm, mình có chạy lên sơ tán cũng vùng nhà thị đây, tất nhiên là có vào sâu trong núi hơn nhiều, hình như thuộc ATK (an toàn khu) thời chống Pháp thì phải. Những ngày ấy nhớ Hà Nội biết chừng nào. Buồn không thể tưởng tượng được. Chiều chiều khi mây tím ngang lưng đèo là bóng tối sập xuống rất nhanh. Ngày ngày, nhìn về dãy núi xanh ngắt xa vời vợi, ba mẹ con chỉ ngồi chờ phiên chợ ngày ba, ngày tám thôi. Chỉ ngày phiên chợ là cái phố huyện miền núi ấy còn vui lên đôi chút với những người dân tộc quần áo chàm quẩy gùi đầy măng, mộc nhĩ, những thứ quả rừng, những con lợn con, chó con… rồi hàng bánh, hàng quà, đây đó thợ rèn quạt bễ thổi lửa phù phù, thợ nhuộm với đôi bàn tay sặc sỡ đủ màu sắc.

Hai chục ngày ở đấy với mình dài như hàng thế kỷ… Dù là mình biết thêm bao điều mới lạ, dù miền núi vẫn mãi là những câu hỏi kỳ bí với mình, dù có thêm những người bạn mới rồi các bác chủ tốt vô cùng nhưng nhớ Hà Nội khủng khiếp. Hà Nội là Hà Nội, không gì thay thế nổi. Ngày ấy, hạnh phúc với mình chỉ là khi bước chân rời khỏi nhịp cuối cùng của cầu Long Biên, đặt vào đường nhựa Hà Nội… Nên khi vừa ổn ổn một chút, sau đợt B52 là mấy mẹ con lại phới về đất thánh ngay tắp lự, không chịu nổi thêm một ngày.

Với một ấn tượng như vậy nên mình cứ nghĩ là thị ở một nơi rất đèo heo hút gió. Nhưng khi cả đoàn năm kia đến thăm nhà thị với cái khách sạn mười mấy tầng ở giữa trung tâm thành phố Gang thép là cả hội choáng váng rồi bảo nhau, con này nó nói phét có cơ sở!

Cả thành phố nó xây cất thế nào mà sầm uất lắm làm cho mình chẳng thể nào mường tượng được đó chính là cái thành phố miền núi buồn bã, vắng tanh vắng ngắt ngày nào, nơi nhà mình khi lên sơ tán, đường xa đã ngồi nghỉ dọc đường, ăn cơm nắm và trứng luộc cạnh bờ tường một nhà máy… vừa trông chừng lên trời sợ máy bay thả bom.

Hay là cái thành phố ngày ấy sơ tán vườn không nhà trống vắng hoe, thỉnh thoảng mới thấy một tự vệ hay dân quân đeo súng phóng xe đạp vụt qua, nét mặt cực kỳ khẩn trương, nơi bố mình có lần đã đạp xe qua vượt hơn bảy chục cây số dưới bom đạn để thăm mẹ mình với hai anh em còn chú mình thì thăm thằng em mình với ông bà ngoại của nó.  Mà trong khung cảnh gấp gáp ấy, chạy B52, ba mẹ con mình đã đi cùng với ông bà lên đó bởi đấy là nơi bà chạy loạn ngày xưa, thời chống Pháp, nơi lưu giữ bao ân tình của người dân, người quen cũ. Ngày ấy chưa có Cầm. Nó được sinh ra khi Hà Nội đã tạm yên hàn.

Ngày ấy, hàng ngày hai anh em mình phải vượt qua một quãng đường khá dài qua rừng, qua rú, rắn rết đầy đường… vào gia đình một bà mế người Tày hay Nùng trong bản xa để chữa bệnh cho mình. Mẹ và mình cứ trầm trồ mãi vì thấy đàn bà con gái trong bản, nhất là bà mế, con gái bà rồi mấy đứa cháu gái bà đẹp lắm. Cũng nước da trắng hồng, mịn màng và mắt đen to, dáng người cao ráo. Thế mình mới đồ chừng thị là người dân tộc vì cũng có nước da đẹp như vậy, trắng trẻo, hồng hào, nuột nà ít người có, nhưng mà không phải.

Ngày thị trẻ, cái lần đầu thị gặp gã bố của các con thị bây giờ cũng với nước da ấy, lại bộ tóc dài suốt quá mông, mượt mà vắt lên thành tay xe máy thì gã ngất ngây là đúng rồi. Chuyện tình thị nghe như trong truyện vậy. Thị phóng cái xe DD đỏ đang ngon chớn thì nó dở chứng. Giữa đèo vắng không một bóng người, chỉ thấy “…Vi lô hiu hắt hơi may, một trời thu để riêng ai một người…”. Giữa bạt ngàn lau sậy, lãng mạn là thế, xe lại bỗng dưng bị tắc tị, không chịu đi nữa, hỏng hay hết xăng sao đó… mà lại có một thanh niên dừng lại thăm hỏi thì làm gì chẳng cảm động cơ chứ. Gã này ở dưới xuôi lên, là bộ đội lái xe, lướt qua thấy cô em ngon mắt… thì đúng là cơ hội ngàn năm có một còn gì. Thế là chuyện trò kể lể, chữa chạy xe cộ thế nào… mà chữa mãi đến tận bây giờ. Khi con gái nhớn thị đã hai mươi. Cũng xinh như vậy. Thậm chí xinh hơn, thấy nhiều người nói vậy…

Thị tuổi hổ. Khiếp cho đàn bà tuổi hổ. Mình chưa quen một hổ nữ nhân nào mà hiền lành cả. Nhớn bé già trẻ đều hãi hết dù có khác nhau về mức độ và phương thức hành động. Nhưng đều là những nàng hổ có cá tính. Thật đúng là không hổ danh tuổi hổ.

Thị nhanh nhẹn và cũng giang hồ ra phết. Cái thời còn đi bán thuốc ngoài đường, công an công iếc Đức là thị cho qua mặt cái một. Nghe đâu đã có lần thị còn bị một thằng “bộ đội” nó dí súng vào đầu cơ mà. Mà cái ngày ấy Cộng mình giết nhau như ngoé, mạng người vì đồng D Mac chẳng là cái đinh rỉ gì. Nên thoát được nó mà vẫn bảo toàn tính mạng lẫn số thuốc trên tay, lẫn số tiền lận trong cạp quần thì phải nói là ngả mũ kính chào.

Thị ghê gớm. Lôi thôi không vừa ý thị phang liền, nói như chan tương đổ mẻ vào mặt người ta. Tất nhiên không phải điều gì cũng đúng nhưng được cái thị biết phục thiện, phân tích cho thị trước sau thị hiểu ngay và bởi vậy nên thị không giận ai lâu cả, kể cả giận mình hay câu lạc bộ (cho dù nhớ dai phết). Nhiều lắm là vài ba tuần lại thấy thị lò dò sang, hỏi bánh khúc nhé hay là cơm rượu nào.

Thị là một người đàn bà cực giỏi và đảm đang tháo vát. Cơ ngơi nhà thị cũng chủ yếu là do đôi bàn tay thị mà nên, đón chị chồng, em giai, em dâu, con cháu sang, lo cho đời sống công việc… Tay năm tay mười. Một tay thị lo hết từ việc hàng quán đến việc nhà như nấu nướng cơm nước, phục vụ chồng con. Việc mà bỗng dưng sang nhà thị buổi đêm mà thấy thị đang rửa lá gói bánh, thái thịt làm hàng sau khi đã xem bài vở cho con, hay là bận rộn đồ nồi xôi để làm cơm rượu, nấu bánh chưng đang sùng sục trên bếp… là những việc rất thường, sau cả một ngày làm việc mệt bở hơi tai đứng quán bán hàng ăn. Trước thấy gã chồng thị cứ có cái đầu tóc xoăn tít, bây giờ mới biết là do thị “thiết kế và thực hiện” sau vụ con gái mình đêm ấy mang sang biếu cô món gì đó thì về bảo con thấy cô đang uốn tóc cho chú mẹ ạ.

Cả năm cả đời chưa bao giờ thấy thị đi đâu nghỉ ngơi cả. Với thị hạnh phúc là làm việc. Mình cứ bảo có khi thị ước một năm phải có bảy trăm ba mươi ngày chứ không phải là ba trăm sáu lăm như thường lệ. Và nếu đã là ba trăm sáu lăm, không thể nào thay đổi được nữa thì đề nghị không có tết nhất, Giáng sinh, Phục sinh… gì cả. Đã bao lần nói thị nghỉ tay, một vài giờ thôi để xem con gái thị đi biểu diễn nhưng mà thị không thể nào nghỉ được. Mà mình chắc nếu có nghỉ thì cũng “thân tại Tào doanh, tâm tại Hán” thôi. Như Quan Vân Trường bị Tào Tháo bắt giữ để mua chuộc ngày xưa vậy, lòng vẫn chỉ mong về với Lưu Bị dù ba ngày được đãi một tiểu yến và năm ngày một đại yến.

Ở gia đình, thị là chủ nhân ông bởi một tay thị quyết đoán, tính toán hết công to việc nhớn trong nhà. Thế nhưng thị lại đồng thời là nô lệ cho chồng con. Thằng cu nhà thị ngoan lắm, rất dễ thương, nhưng cả gần mười tuổi cứ bám theo mẹ suốt và thị còn bón cho con ăn. Cả bọn nói mãi, thị vẫn không đổi. Nhưng bây giờ anh ấy đã lớn nhiều rồi, từ ngày anh ấy học lớp tiếng Việt ở đây, đã thay đổi nhiều, ra dáng thanh niên lắm. Và không thích nhắc chuyện cũ đâu nhé. Đêm về sau cả ngày quần quật thế mà vẫn thấy thị è cổ ra lau nhà lau cửa, cơm dẻo canh ngọt cho chồng về muộn, cho con có thì giờ để học hành. Tóm lại là chồng thị có phúc lấy được một “trâu vợ” rất yêu chồng, các con thị có một “trâu mẹ” vô cùng yêu con. Thị thích hầu chồng con và thị hạnh phúc.

“Mồm chó vó ngựa” như thế nhưng với chồng là một điều anh, hai điều em, nhũn như con chi chi. Thị vẫn được lôi ra làm gương cho những em nào muốn có một hạnh phúc ấm êm. Nhưng khổ có ai làm được hộ ai cái gì bao giờ. Biết cả đấy… nhưng mà khó quá. Thấy chúng nó, bọn trẻ con ( cũng bốn chục cả rồi còn gì), gãi đầu gãi tai vậy mỗi khi “luận” về hạnh phúc của gia đình đài phát thanh.

Nói vậy thôi, ai mà chẳng có những nỗi buồn, những hệ lụy hay lo âu mà chẳng thể nào chia sẻ cùng ai. “Có những niềm riêng một đời giấu kín, đến lúc xuôi tay có chút ngậm ngùi”. Mình biết, hiểu và thông cảm cùng thị.

Việc câu lạc bộ thị rất tình nguyện và vui vẻ. Biết bao công việc của câu lạc bộ mà không có thị thì chết dở ấy chứ. Mọi việc lớn nhỏ, những dịp lễ lạt, Tết nhất, hàng trăm khách là chuyện rất thường mà chẳng có bàn tay to đùng gân guốc ấy mó vào thì khó mà công việc cứ trơn tuột đi như vậy. Cái chuyện chiên đùi gà tẩm bột cả nửa tạ, hàng trăm cái nem, thái chặt thịt xương bốn dăm yến là chuyện thường ngày ở huyện… hay mới nhất đây là đào cái rễ tre dưới vườn để trồng hoa mới. Cái rễ tre nó sâu khủng khiếp và lan tỏa rất rộng. Thị phải mất hai buổi cuối tuần hì hục mãi đấy. Đi làm về mệt như thế, trời đã tối rồi lại mưa mà cứ mình thị cuốc cuốc đào đào, bới mãi mới moi được một mẩu. Hàng tiếng đồng hồ mới xong.

Cái sự khỏe chỉ là một việc, thị bây giờ cũng chẳng phải như mười năm trước được nữa. Nhưng quan trọng ở đây là cái tấm lòng và sự nhiệt tình của thị hiếm có ai so sánh nổi.

Trước khi có công nên việc nhớn gì là bao giờ thị cũng lo lắng từ trước lâu, lo lắng chuẩn bị và luôn luôn tự nguyện “xin việc”. Thương thế cơ chứ. Nhiều khi ốm, mũi dãi thòng lòng nhưng vẫn hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.

Thị là người rất chu đáo và kỹ tính. Miếng xương thị chặt cũng gọn gàng, miếng thịt gà thị chiên cũng thơm lâu giòn lâu, bếp núc mỗi khi thị sang cũng dọn dẹp rất sạch sẽ, thị nhìn thấy mình làm thị kinh vì có lẽ không đạt yêu cầu của thị ví dụ như rửa bát bẩn chẳng hạn… Thị nhận việc gì là mình cực kỳ an tâm bởi thị là người rất giữ chữ tín.

Tóm lại là không nhổ được cây tre cũng O ơi, mà bỗng dưng thiếu nắm giá cũng O ơi…

Thế nhưng thị lại là người rất ít khi có ảnh vì thị thường dậy sớm, nấu nướng, lo công việc của câu lạc bộ… xong là lại hộc tốc đi làm. Tối thị về thì lễ lạt thường đã xong xuôi. Ai còn chụp ảnh ở cái giờ ấy nữa. Thế là thị cũng lại lao đầu vào dọn dẹp cùng mọi người… Hay có những việc thị làm giúp vào những giờ, những ngày không có ai ở đó. Tức là sau mỗi thành công của những “phi vụ” đó thì luôn có những người bạn chân thành mà thị là một trong những cá nhân đó.

Có lẽ khó có cái gì mà thị không làm được. Cái sự thị giỏi thì không ai chối cãi được. Kể cả người ghét thị mấy đi chăng nữa cũng phải công nhận.

Thị tình cảm lắm và rất nhiệt  tình. Nghe tin mình ốm đau gì là thị bất kể đang bận mấy thì bận cũng chị ơi em có cái này tốt lắm, cái kia tốt lắm. Em út bạn bè đứa nào bệnh hoạn gì thị cũng mách bảo thuốc men thị biết, những mía lau cho lợi tiểu, những lá lẩu cây thuốc chữa chạy đủ thứ bệnh. Mà thị còn chỉ đạo ở nhà gửi sang nữa để giúp đứa này đứa nọ nữa ấy chứ.

Sẵn lòng với bạn bè, rất chân tình và thảo tính. Ai nhờ gì thị cũng làm ngay dù bận mấy thì bận, dù cả ngày làm việc quần quật xào xào nấu nấu… Con này ốm thị còn sang nấu ăn, lau nhà lau cửa cho bạn, chẳng nề hà gì. Đứa kia bệnh thị lại cháo não thăm hỏi. CLB đi chơi mà thị không đi cùng được bao giờ nhưng khi thì gửi nồi xôi, khi thì ít bánh mang theo. Bạn bè đứa nào thèm gì là có ngay khay bánh đúc lạc, nồi xôi khúc nóng hổi, âu rượu nếp hay đĩa bánh cuốn trắng tinh, mềm mại… Tính thị không màu mè, không vờ vịt…

Nghĩa là thị là người phải chia sẻ được thị mới hạnh phúc. Vì ngay sát câu lạc bộ nên hai chị em, mình và thị, có gì cũng dành phần cho nhau. Lâu lâu, nghĩa là độ dăm ngày hay nhiều lắm là vài tuần mà không thấy là rất nhớ…

Nhắc đến chuyện bánh gai của thị là mọi người đều khoái trá cả, là một chuyện điển hình cuả Đài phát thanh TN. Thị làm bánh gai rất ngon, nhưng hơi thô, cái nào cái nấy trông đều rất chất lượng, to và dầy. Nhìn cái bánh gai đen mướt, thơm phức mùi lá gai, nhưng to quá nên mình sợ bảo không ăn nổi đâu, nhưng thị cứ ép dấn vào tay ba cái to đùng. Thị bảo ăn đi , ngon lắm, con H ăn ba cái còn thòm thèm cơ mà chị ạ. Mình nghĩ có lẽ vì nó thích của ngọt. Đinh ninh vậy nên hôm biết mình sẽ gặp con kia, thị dúi vào tay mình mấy cái bảo mang phần cho nó. Nghĩ nó thích lắm vì ăn được những ba cái, khi gặp mình bèn hỏi với sự rất trầm trồ, mày ăn giỏi thế hả em, bánh rất ngon nhưng to quá chị ăn chỉ nổi cái là lè lưỡi rồi em ạ. Thị này tròn xoe mắt ngạc nhiên bảo sao O bảo em là chị ăn được ba cái cơ mà, em chỉ hết một cái là chết dở rồi chị ạ, to quá. Hai chị em rũ ra cười vì con bạn mình. Yêu quá đi mất thôi. Thế gọi là “Điêu nhưng mà rất đáng yêu” là vậy.

Năm nào mình lên thăm nhà thị, thăm bà bô thị vui lắm. Thị giống bà bô thị ghê, cả hình thức và tính tình. Chắc ngày trẻ bà cũng làm khối anh liêu xiêu đây. Cô em gái thị cũng đẹp và cũng khéo léo đảm đang vô cùng. Một mình nó tay năm tay mười mà dăm bẩy mâm, mỗi mâm cả chục món ngon lành hảo hạng để cùng gia đình cô bạn thân mình, đồng hương đồng khói với thị, đãi cả đoàn bọn mình. Thoắt cái là xong. Mình cứ bảo mãi bà bô thị sao cô sinh được hai đứa con gái giỏi thế cô nhỉ. Cứ gọi là bà “Mát rười rượi” bà nhỉ.

Hôm kia bà bô thị sang. Cầm nắm ngót rừng trên tay, ít trám đen, đã om ăn bùi ngậy, mình cảm động mãi. Đó là những thứ mình rất thích, những món khoái khẩu của mình. Ở Hà Nội lấy đâu ra những bánh trứng kiến, măng tươi… nhờ thị mà mình được biết bao nhiêu món lạ nơi đồng rừng. Biết mình đầu tóc ăn mặc oái oăm, bà bô thị còn may cho mình quần “chân què” nhé bằng đúng vải đũi nhuộm chàm, thứ đũi chính cống của người Tày, người Nùng họ dệt tay. Bây giờ lấy đâu ra ở Hà Nội mà có người may nổi kiểu quần ấy nữa nào. Vậy mà, mình có nửa tá nhé.

Mình nhớ lại những ngày ba mẹ con trên quê nhà thị, nhớ những rặng núi xa xanh mờ khi chiều buông, nhớ những cái gùi đầy quả rừng trên những lưng áo màu chàm của người dân tộc, nhớ con đường nhỏ với những con rắn màu mè sặc sỡ nằm phơi nắng khi anh em mình đi qua, nhớ mồ hôi trên trán bố khi vừa đến đầu con dốc của phố núi sau cả ngày đạp xe xuyên qua bom đạn lên thăm anh em mình với mẹ…

Và bây giờ thì mình biết vì sao mình có duyên với thị. Vẫn biết vì thị nhiều điều đáng yêu, thú vị nhưng có lẽ chính là bởi vì đâu đó ở thị nhắc nhở lại một phần kỷ niệm thơ ấu của mình, nhất là những tháng ngày đó, dù không lâu nhưng sâu sắc.

Thị là một mẫu người lấp lánh mà đậm đặc bản năng con người, đủ cả ái ố, hỷ nộ, tan hợp, ấm lạnh, bi hoan. Thô mộc chưa được gọt giũa nhưng nhờ vậy mà thấm đẫm nhân tình. Mà như một văn sĩ lão thành đã nói là “Bản chất cõi đời người là không hoàn hảo và cả chính chúng ta cũng không hoàn hảo nốt” cơ mà, phải không đài phát thanh TN?

Berlin, 8.2012

Tiêu huyền

Tặng LTH

 

Tháng bảy năm nay sao mà lạ thế, chẳng hiểu sao hiếm khi Berlin có được một ngày đẹp. Mưa gió dầm dề và sấm chớp giật lằng nhoằng, xì xoẹt suốt, thậm chí cả sét nổ đùng đùng nữa. Thành phố nhiều khi tiêu điều như sau những mùa bão tố. Vậy mà hôm nay trời đẹp mới chết chứ. Nắng rạng rỡ, trời trong xanh, hoa lá tươi tỉnh, chim hót véo von… Tóm lại là đẹp.

Trên đường đi dịch về lòng hân hoan, mình ghé cửa hàng thị bạn chơi. Qua một hàng hoa, mình ghé mua tặng bạn một bó hoa cúc thược dược trắng ngần mà lại tím, phơn phớt tím mới tuyệt chứ và một bó tự tặng mình.

Bó hoa thật tươi, cành lá cứng cáp, xanh ngắt, cánh hoa khum khum, cuốn tròn, dày và mạnh mẽ, trắng muốt ở trong mà phớt tím từ nhụy ra ngoài. Đẹp. Một cái đẹp thanh tân mà lại đằm thắm, dịu dàng thiết tha. Ô hay, „lăn lộn“ thế này mà mình vẫn yêu vẻ đẹp „trong giá trắng ngần“ ấy thế thì chả trách cánh liền ông với những cô bồ nhí, vợ trẻ nhé.

Là cúc hay thược dược nhỉ. Hay là cả hai? Bây giờ công nghệ trồng hoa vô cùng tân tiến, biết bao nhiêu loại giống hoa lai tạo với nhau, ra bao thứ hoa lạ và vô cùng đẹp. Mà xét cho cùng thắc mắc làm gì, cúc hay thược dược quan trọng gì, miễn là đẹp và lòng mình xao xuyến.

Thị bạn này cũng là một trong những người yêu hoa. Dĩ nhiên cái việc đàn bà yêu hoa nó tự nhiên như việc… đàn ông yêu rượu vậy. Tìm một người đàn bà không thích hoa mới là khó chứ người yêu hoa thì có gì lạ. Nhưng thị này là người rất thích hoa. Và mình biết thị sẽ rất thích. Và quả vậy thị thích lắm. Mình vui vì bạn vui.

Ngồi chơi với vợ chồng thị cũng hơi lâu lâu trong cửa hàng vì cũng tiếng là ở gần nhau, hàng xóm của nhau, rồi thị lại là một trong những người bạn thân thiết với CLB, thường xuyên có mặt ở CLB… nhưng để ngồi với nhau thế này đâu phải dễ dàng.

Không dễ vì khi mình có thời gian thì thị không có và ngược lại. Ra CLB thì lúc nào cũng „một tạ“ người, lúc nào thị cũng như ma đuổi để về với chồng con. Khi thì về để ăn cơm với anh ấy (bọn mình toàn đùa thị là về ăn cơm „ôm“ hay sao mà cứ nằng nặc về vậy), khi thì việc đang đầy ra, những tháo chỉ, vê gấu… khi thì chưa nấu cơm cho thằng cu… Thằng cu ở đây đã 18- 20 tuổi, cậu tú đến nơi rồi nhưng vẫn là thằng cu. Ừ thì với cha mẹ tám chục tuổi, con sáu chục vẫn là trẻ thơ mà.

Trước kia nhà thị có quán ăn, bây giờ từ dăm năm nay thì thị mở cửa hàng sửa chữa quần áo. Cũng là „chồng cày vợ cấy“ như anh chị mình thôi, chứ không phải được đào tạo là chuyên gia may hay ăn uống gì.

Thị nguyên thủy là cô giáo dạy văn, ông xã thị thì dân toán, lý gì đó. Trường hợp gia đình thị không phải là cá biệt trên nước Đức này. Để tồn tại, biết bao nhiêu kỹ sư, giáo viên… tóm lại là trí thức VN đã phải vượt qua chính mình để làm được những việc mà khi trước kia có khi nằm mơ cũng chẳng bao giờ tưởng tượng nổi.

Nhưng chỉ cần nghĩ đến con là mình làm được hết, mình và thị vẫn bảo nhau vậy. Ở nước Đức này và ở hải ngoại nói chung mà làm việc được đúng cái mình đào tạo hay mình thích thì chỉ có một lượng người vô cùng ít mà thôi.

Mình biết để vượt qua được chính mình, mặc cảm của chính mình không phải đơn giản. Nhìn vợ chồng thị hay anh chị mình loay hoay để tồn tại mình thấy sao cuộc sống nhiều khi bất nhẫn làm vậy.

Thị là một cô gái ven đô, và cái dấu ấn ấy nó rõ ràng đến mức nhìn thị người ta thấy ngay. Thị cũ kỹ và mô phạm. Thị nhẹ nhàng và có giọng nói như ru. Nghe giọng nói ấy và nhìn tác phong, người ta biết ngay đến nghề nghiệp của thị, không thể là gì khác ngoài giáo viên. Vậy nhưng thị lại là người khá cởi mở trong nhiều quan niệm. Thì cứ như sự thị chấp nhận mình, thậm chí ở nhiều việc còn thấy mình thú vị (có bỏ mẹ không) đã là một sự kỳ lạ với khối kẻ rồi. Mà cần quái gì cứ phải giống nhau mới chơi được với nhau nào.

Thời đại học, thị lại là sinh viên của chính chú và các cậu mình, những giáo sư văn chương kỳ cựu. Mà hay nhất là thậm chí chú mình lại còn là thầy hướng dẫn thị luận văn tốt nghiệp, về Thạch Sỹ Bia (như thằng em mình hay dí dỏm nói- Shakespeare) nữa. Đó là những điều mãi sau này mình mới biết. Cái Hà Nội nói vậy cũng nhỏ thôi nhỉ.

Mình cứ hỏi chú mình là sao chú nhớ thị ngay khi mình hỏi, dù trong hơn năm chục năm dạy đại học, chú có biết bao là sinh viên mà thị này cũng không có gì đặc biệt, cả hình thức lẫn nội dung trừ cái tên nghe hơi đàn ông? Thì chú mình nói rằng vì đề tài luận văn về văn học phương Tây của thị rất ít sinh viên nữ thích chọn.

Vợ chồng thị là một hình mẫu chuẩn cho bất cứ một gia đình nào mơ ước. Hai thằng con trai hiếu thảo, đàng hoàng. Thằng đầu giỏi, tốt nghiệp bác sỹ, đang học cao học và chắc nó rồi sẽ là niềm tự hào cho VN chứ không phải chỉ cho mỗi gia đình thị. Thằng sau hiền lành, ngoan ngoãn, đáng yêu của những đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, nó có cái ngờ nghệch, ngây thơ chứ không „láu cá chó“ như đại đa số đứa trẻ khác, những đứa trẻ mà người ta gặp nhan nhản ở cố quốc hay cộng đồng người Việt ở đây.

Chả trách được chúng, có trách chăng là trách cuộc đời, thể chế… đã tạo ra hoặc ủng hộ cho những điều bất cập phát triển. Cái chủng tử tệ trong nhân cách mỗi con người ai chẳng có, nhiều ít khác nhau mà thôi, nhưng có điều kiện tốt nó sẽ phát triển „rực rỡ“.

Vợ chồng thị thì quả thật đúng là hình mẫu „phu xướng phụ tuỳ“. Hiếm có cặp vợ chồng nào mà làm việc với nhau 24/24 mà vẫn âu yếm nhìn nhau, như nuốt từng lời của nhau vậy mỗi khi nhắc nhau hay nói với nhau điều gì đó, như em ơi pha trà nhé chẳng hạn hay anh ơi nồi thịt kho xong rồi đấy… Nhìn thị xong ngẫm lại mình chắc chắn khối „đương sự“ phải thấy tủi thân (trong đó có mình) lắm đây. Còn chuyện vợ chồng cùng làm bếp ở quán mà quăng chảo, ném nồi vào đầu, vào mặt nhau không phải hiếm ở cái nước Đức này đâu nhé.

Ông xã thị là người chân tình, quý mến bạn bè. Gã nói không nhiều, nhưng quan tâm những chuyện nhỏ nhặt. Ví như may cho đứa này cái ví đựng chìa khoá, nếu thích, chữa cho đứa kia cái kéo phẹc mơ tuya… chẳng hạn hoặc là tạo điều kiện cho vợ đi „giải quyết vấn đề tình cảm“ như đi chơi với chị em hay ra ngồi quán… „buôn“ hay „tám“ vậy. Gã chăm chỉ và tận tụy với vợ con đồng thời là một „con trâu tốt“ vô cùng. Chứ thị này nay ốm mai đau thế mà không có gã thì có mà nguy to.

Bàn về cái sự bệnh của thị thì nặng cũng có mà nhẹ cũng có. Của đáng tội thì thị cũng có bệnh thật nhưng mà hay hoảng hồn lắm cơ. Hôm nghe nói thị bị cấp cứu bệnh viện một tuần mấy lần, mình hoảng quá, đến thăm thì khi nghe thị nói lý do và chỉ số HA của thị thì mình cười khẩy. Vì nếu mà như thị đã cấp cứu thì mình phải nằm viện từ bảy mươi đời rồi. Chẳng qua là có người để làm nũng thôi, có người để quan tâm thôi, chứ như mình „chết khô chết nỏ“ đây này.

Cứ nghĩ đến bệnh này lại nghĩ đến thị bạn thân và bà chị dâu mình, cùng một bệnh. Đây là bệnh của những kẻ „thân cư phu“ đấy. Được chồng yêu quá đây mà nên hay hoảng. Thị cũng tự phê, thấy mình như vậy. Chứ như mình đây thì „thân cư… mình“, kêu ai? Cái gì cũng lùi lũi làm một mình thì chỉ trừ khi thẳng cẳng ra đấy rồi thì phải chịu thôi chứ không cố, ai làm cho nào? Một mình vừa là vợ, vừa là chồng, hiếm gì.

Ngày xưa khi quán nhà thị còn ở đầu đường nhà mình thì mình thường xuyên ghé chơi, uống với nhau tách trà, bàn về nhân tình thế thái hay dạy cho nhau một món ăn mới hay gì đó. Dưới chân mình là nàng Lộng Ngọc yêu nằm khoan khoái vì hạnh phúc. Vểnh râu hóng hớt chuyện của mẹ và các cô bác, thưởng thức những làn gió thu hè mát rượi… hay được bác cho một cái ốc quế kem nhai cồm cộp… Những ngày xưa nay còn đâu? Lộng Ngọc đã mất và quán đã đổi chủ.

Thị bán quán sau một thời gian dài không ra kết quả gì. Mà ra gì được khi bán quán ăn mà chồng thì xem TV còn vợ thì ngồi đọc truyện, đọc thơ. Khổ thế, trí thức đi làm kinh doanh chán ghê. Nói thế chứ thiếu gì trí thức vẫn thành ông chủ nọ kia đấy chứ nhưng mình nghĩ là họ phải có năng khiếu đâu đó và hoàn cảnh phải thật xô đẩy cơ. Chứ bản chất cái anh trí thức lừng khừng, có thì tốt, không có cũng không chết ấy thì làm cái gì được.

Chơi với nhau hơn chục năm trời, có miếng cá kho ngon, tráng được cái bánh xèo, làm được món gì mới cũng phải gọi… nhau ăn mới thấy ngon, đi đâu chơi về cũng một chút quà nhỏ cho nhau, một cuốn sách hay, một sự kiện văn học gì mới cũng ới nhau một tiếng… Cứ độ mươi ngày không có nhau là thấy nhớ. Thế có gọi là thân không? Theo mình mọi thứ định nghĩa không quan trọng. Quan trọng là cái tình mình đối với nhau.

Có một cô bé (cũng bốn chục rồi chứ chả chơi) cứ lấy làm lạ khi mình nói mình thân với rất nhiều người chứ không như nhiều người nói rằng bạn thì nhiều còn bạn thân có rất ít, có khi cả đời chẳng có nổi một người với đúng nghĩa. Mình nghĩ khác. Mình có nhiều bạn thân vì mỗi người mình thân một chuyện. Có người thân chuyện văn thơ, có người chuyện nhà cửa nấu ăn, có người chuyện công việc, có người lại chuyện nhân tình thế thái, chuyện đời…

Mà trong mỗi việc ấy còn biết bao việc nho nhỏ nữa như trong nhà cửa nấu ăn lại có vụ cắm hoa, vụ dạy con cái, vụ đan lát thêu thùa… nên tìm được người mà mình có thể chia sẻ hết với mình những việc ấy đâu có dễ. Có người rất quan tâm việc này mà lại không quan tâm việc kia… không thể cùng nhau về vấn đề đó.

Có người chỉ chuyện văn chương thơ phú thì dốc lòng dốc ruột thâu đêm suốt sáng nhưng không tài nào quan hệ được trong đời thường. Bởi vậy nên người ta gọi rằng là „gạn đục khơi trong“ là vậy. Còn tất nhiên tìm được người mà thân được nhiều phương diện thì tuyệt vời còn gì nữa mà bàn.

Quán café trước cửa, nơi mình thường ngồi đồng để viết bài, và quán coctail này là nơi mình, thị và cả hội hay đàn đúm. Hè cũng như đông hay những ngày thu, gió hiu hiu, nhàn nhã… là mình và thị lại ngồi đây trên trời dưới bể chuyện đời, chuyện mình… hạnh phúc biết bao. Hay ở quán „con Nhặng“ bạn mình đề tài chỉ toàn những chuyện ruồi muỗi rôm sảy, hố xí hai ngăn, xếp hàng mua gạo, mua dầu… ngày xưa mà rôm rả khiếp lên được, rứt mãi không ra. Nhìn nhau đã thấy hai, ba giờ sáng là chuyện rất thường.

Cứ thế mà rồi cũng đã mười mấy năm trôi qua, từ khi bọn trẻ con nhà thị và con gái mình còn bé, bây giờ chúng đã muôn ngả đường đời… còn trơ lại mấy ông bà già với nhau thôi. Vợ chồng thị sắp, chứ mình thì đã.

Thích nhất và mình cũng luôn nói là một trong những thành công nhất của mình trong ¼ thế kỷ làm việc xã hội là „bẩy được“ thị lên sân khấu, hát đồng ca trong vụ kỷ niệm hội mình hai mươi năm thành lập mùa thu năm ngoái. Lại còn mặc áo dài nữa mới „giết người“ nữa chứ. Làm thị bây giờ rất khoái mặc áo dài. Hôm ấy là mình còn vác thước dây đến tận nhà thị để lấy số đo (tất nhiên là không công bố nhé), chứ không còn lâu! Bởi vậy mỗi cuộc cách mạng là luôn phải có những sự ban đầu gay go thì mới có thành công là vậy. Dĩ nhiên là phải chờ thời cơ chín muồi mới đề đạt với thị việc mặc áo dài.

Ở ngay ngã tư tầu xe tấp nập, tầu điện, tầu điện ngầm… suốt ngày qua lại… vậy mà ở trong cửa hàng thị, giữa đống quần áo, vải vóc, kim chỉ, máy may… bộn bề mà người ta dường như không nghe một tiếng động nào bên ngoài dội vào. Chỉ thấy tiếng nhạc cổ điển dìu dịu, giọng nói nhẹ nhàng của thị với chồng, tiếng nói khẽ khàng của gã với vợ… Và ngoài kia, ngoài cửa là cây tiêu huyền cổ thụ trĩu trịt hoa, những chùm hoa vàng nhạt xanh xanh, xếp lớp nọ chồng lớp kia, treo lủng lẳng đu đưa theo gió như những bông hoa tai lúc lỉu bên mái tóc người thiếu nữ. Hương tiêu huyền thoảng trong không gian, nao nao lẫn vào hương hoa dại của buổi chiều hè.

Cạn bình trà rồi, chào vợ chồng thị, bước chân ra khỏi cửa hàng, mình ngước nhìn, ngắm nghía cây tiêu huyền xum xuê, những cành tiêu huyền trĩu nặng hoa trên cao, trên nền trời xanh thắm… Một thoáng hạnh phúc ở đâu ùa về. Tay vuốt nhẹ những thanh hàng rào dọc vườn nhà ai theo những nốt nhạc lòng, ngắm nhìn những bông hoa nho nhỏ muôn màu, có tên và không tên của mùa hè trong vườn, trên những bãi cỏ bên đường tàu… mà không hiểu sao lòng mình cứ bâng khuâng mãi.

Vì những cành tiêu huyền nở hoa trĩu trịt trước cửa gợi nhớ những mùa xưa ư? Vì một tình bạn lâu năm, lắng đọng giữa mình và thị, thoang thoảng mà đậm đà như hương tiêu huyền đây? Hay vì một mối tình sâu nặng, một cuộc hôn nhân hạnh phúc bền chặt như cây tiêu huyền cổ thụ này của vợ chồng thị bạn, niềm ao ước của bao lứa đôi? Hay vì tất cả, vì một chiều hè rạng rỡ nồng nàn hương sắc.

Trên hết cả, vì mình biết chắc rằng hạnh phúc không tự nó tìm đến bao giờ.

Berlin, Juli 2012

Tặng cháu Phạm Trọng Anh

 

„Đường trần khuất nẻo, từ nay sẽ không gặp nhau nữa!“. Ngước lên vẫy vẫy tôi, người đàn ông ấy đi vào trong đường hầm. Giật mình tỉnh ngay dậy, tôi vội lấy giấy bút ghi lại những gì trong giấc mơ mà người đàn ông vừa nói với tôi xong, bởi tôi biết nếu không ghi chép ngay, sáng mai tỉnh dậy mình sẽ quên.

Tôi có thói quen như vậy. Những giấc mộng, những cuộc gặp gỡ trò chuyện, những câu thơ, những đoạn văn… trong mơ đều được tôi ghi chép lại cẩn thận. Để suy ngẫm, để tìm tòi, để chiêm nghiệm cái lẽ nhân duyên, sinh tử, còn mất, sắc sắc không không, hư vô ở đời…

Ngày ấy đội tôi có D bị mất tai nạn khi còn rất trẻ. Là công nhân của đội tôi, một đội may lớn của Cộng hoà và lớn thứ nhì Berlin nên chủ yếu là nữ, D là một trong rất ít nam của đội. Véo von hát chèo suốt ngày, tính tình hòa nhã, dễ mến, lại ở cùng tầng với phòng tôi nên khiêng tủ, bàn gì là D cũng nhiệt tình giúp đỡ chị. Dễ thương, đẹp trai vậy nhưng mãi khi đội gần về, D mới có người yêu.

 M rất duyên dáng và cũng là người cùng ở Nam Định đi. Cả đội bạn bè ai cũng mừng cho D và M. Đùng một cái D bị tai nạn xe ôtô và mất đúng lúc cả đội đang lo vụ đi, ở hay nhận tiền đền bù để về nước. Tình hình vô cùng bấn loạn, rối tinh rối mù… Chỉ còn mình tôi và J. là người của nhà máy phụ trách đội lo lắng hết các việc đi tỉnh, đến bệnh viện làm thủ tục, hẹn ngày đến nhà xác nhận diện, rồi lại liên hệ lò thiêu, làm lễ an táng, tổ chức ở đội…

Lâu quá nên tôi cũng quên nhiều chi tiết, chỉ nhớ rằng trước khi về nước thì đội chúng tôi có làm lễ truy điệu cho D, và sau đó thì M mang hũ tro của D về nước cho gia đình. Cả đội ai cũng tiếc thương.

Tôi cũng nhớ và thương D nhiều. D còn trẻ quá và mới yêu M thì đã mất vì cái tai nạn không đâu ấy. Thời gian ấy là thời gian vô cùng căng thẳng, việc giấy tờ, giấy phép cư trú, ở lại… Chắc tất cả những ai nếm trải những năm đầu của thập kỷ 90 đều cảm nhận rõ sự căng thẳng ngột ngạt ấy. Phải nói rằng đó quả là những năm tháng không thể nào quên.

Bởi vậy cùng thời gian và bộn bề công việc, như bao người, thời gian đầu tôi còn nghĩ đến D. Sau đó, cái chết của D trôi vào giữa bộn bề của một đời sống đầy lo toan, phấp phỏng.

Vậy mà lâu lắm sau đó có một đêm đang ngủ, tôi mơ thấy D về, y như lúc còn sống, vui vẻ chuyện trò hai chị em… Không hiểu sao trong mơ nhưng tôi vẫn biết D đã mất nên khi tỉnh giấc, tôi vội vàng lập tức mở sổ làm việc của năm 1990, năm giải tán đội, năm cả đội về nước và chính là năm D mất ra xem.

Vô cùng kinh ngạc, tôi thấy trong sổ mình ghi, hôm nay, đúng bảy năm trước là ngày D mất. Đọc đâu đó vẫn biết dù rằng hai thế giới cách biệt nhưng người âm luôn mong muốn được người thân nhớ đến mình, sưởi ấm lòng mình bằng những sự quan tâm, thương nhớ để bớt cô đơn lạnh lẽo. Tôi nghĩ, có lẽ D nhắc nhở tôi hay D đến chào tôi để được đi đầu thai chăng vì trông D vui vẻ. Vì bất cứ lý do gì nhưng thấy D vui là tôi đều thấy yên dạ…

Những chuyện báo mộng như vậy với tôi không hiếm. Và lần này…

Một đêm mùa đông cách đây đã lâu, năm 2004, trong mơ tôi thấy mình ngồi với bạn bè uống cà phê như là trên một cái Terrasse thì phải. Bỗng trước mặt tôi, hiện ra từ từ một khuôn mặt đàn ông, cạnh cạnh, tóc lượn sóng. Người đàn ông đó lấy tay đẩy cho tôi một chai nhỏ, vuông, có nút đậy, bên trong là một thứ dung dịch màu trắng đục đục và nói với tôi rằng „Tôi biếu chị để chữa bệnh. Cám ơn chị đã giúp đỡ vợ con tôi.“

 Cũng lấy tay tôi nhã nhặn đẩy lại phía anh ấy và nói „Anh biết rồi, tôi là người làm việc xã hội, chưa lấy quà biếu của ai bao giờ anh ạ“. Rồi tôi thấy khuôn mặt đó từ từ mờ dần. Đầu tiên là khuôn mặt, rồi đến mái tóc và tôi bỗng thấy mình từ trên nhìn xuống một đường hầm, thấy anh ấy bé lắm đi vào, ngước lên nhìn tôi vẫy và nói „Đường trần khuất nẻo, từ nay không gặp nhau nữa!“. Rồi hình ảnh đó biến mất và tôi tỉnh dậy.

Tôi đã kể điều này với rất nhiều các em, các chị nơi câu lạc bộ, với gia đình, bạn bè… Ít lâu lại kể vì lòng tôi cứ canh cánh không biết người đàn ông đó là ai.

Trong cả hơn ¼ thế kỷ làm việc xã hội, tôi biết, bằng cương vị và công việc của mình, VINAPHUNU và tôi đã giúp đỡ được rất nhiều đồng bào mình qua cơn bĩ cực. Nhưng quả thật tôi không thể nghĩ ra được ai có thể là vợ con của người đàn ông trong trường hợp này. Vì vậy tôi thường kể lại với mọi người và bản thân mình rất hay nghĩ đến giấc mơ lạ lùng này.

Và điều lạ lùng đó đã xảy ra vào mùa hè năm ngoái.

Một ngày tôi thấy có điện thoại của cô HL của một hãng du lịch. Chị em  không biết nhau nhiều nhưng cũng biết và quý mến nhau. HL có lên chơi khi VINAPHUNU tổ chức lễ Khai Hạ, lễ Thiếu nhi vào mùa hè năm kia. Hơi ngạc nhiên vì thấy HL gọi. Hai chị em trò chuyện chút thì thấy HL đề cập đến câu chuyện rằng chị ơi em có chuyện này nhờ chị.

Thằng cu này ở VN, em cũng không quen biết đâu nhưng mà thương cháu quá. Em đọc trên báo cộng đồng thì thấy cháu nó tìm bố mất tích từ mấy năm rồi mà thấy vô vọng quá chị ạ, chẳng có kết quả gì cả dù cũng đã gửi thư từ, tin nhắn trên nhiều báo chí cộng đồng, hỏi và tìm khắp nơi, rồi cũng nhiều cá nhân và hội đoàn như hội đồng hương HNN chẳng hạn vào cuộc tìm kiếm, hỏi han, mách bảo… nhưng rồi thông tin ấy vẫn thấy đăng trên báo tìm bố.

Em bèn gọi điện về và nói chuyện với cháu thì thấy nói bố cháu sang Đức từ năm 2001, sống chui, làm chui ở bên Tây Đức… rồi hồi đầu thì còn điện đóm, nhắn tin cho vợ con, sau mất luôn tin tức từ 2002 đến giờ. Có nhiều thông tin là chết rồi mà không tìm ra manh mối. Gia đình thương nhớ lo lắng lắm mà không biết làm sao. Nhờ báo chí, hỏi thăm khắp nơi thì đều không có tin gì chính thức cả. Biết đâu mà tìm. Bóng chim tăm cá hay là mò kim đáy bể bởi không để lại dấu tích gì.

Cuối cùng thì HL bảo tôi, chị xem liệu có giúp cháu được không chị ạ. Thằng cu khi bố đi mà mất tích nó có hơn mười tuổi, bây giờ lớn lên nó nung nấu việc tìm bố lắm. Cháu nó ngoan lắm chị ạ.

Năm ngoái để chuẩn bị việc Đại Lễ kỷ niệm câu lạc bộ chúng tôi thành lập được 20 năm, nào là ra sách, làm cuốn phim tư liệu, tổ chức, liên hệ… nên tôi rất bận. Riêng việc suốt mấy tháng trời chỉ ngồi biên tập bài vở đã mờ cả mắt, tê hết cả chân, ngày làm việc ít nhất là 14-15 tiếng đồng hồ… Nhưng tôi cũng bảo, em cứ đưa địa chỉ email của chị cho cháu TA để liên hệ trực tiếp cho tiện trao đổi.

TA viết thư ngay cho tôi. Kể rằng gia đình có nghe những người quen nói lại thì cho rằng có lẽ bố cháu đã chết rồi. Bố cháu là người rất chăm chỉ và đều đặn điện thoại về cho mẹ con cháu, suốt từ khi bố cháu sang đến Đức vào năm 2001, cứ ba ngày một lần. Vài tháng làm lụng được ít tiền bố cháu lại gửi về cho mẹ con cháu. Cái lần cuối cùng vào tháng 7.2002, bố cháu điện về nói với mẹ cháu là bị đau dạ dày?! Đó là lần cuối cùng mẹ cháu nói chuyện được với bố cháu, sau đó không bao giờ có nữa. Bố cháu mất tích, không có bất cứ một thông tin nào nữa cả từ lần đó bác ạ.

Thương nhớ bố cháu quá, dù bố cháu có mất rồi thì nhà cháu cũng muốn biết chính xác vì sao, như thế nào, biết ngày để cúng giỗ để đưa bố cháu về với gia đình. Và vì sao bố cháu mất cho yên lòng mẹ cháu và anh em cháu.

Trên đường từ Nga, qua Tiệp hay Hà Lan gì đó để sang Đức thì bố cháu bị những người đưa người lấy hết giấy tờ nên khi sang được đến nơi là bố cháu hoàn toàn không có một thứ giấy tờ tùy thân nào trên người cả.

Không nhập trại nên suốt trong gần hai năm đó bố cháu ở chui, khi thì đi làm đồng, khi thì đi làm quán… nhưng tất nhiên vì ở chui thì làm gì có giấy tờ gì nên đi làm cũng là chui. Hết từ làng này sang làng khác, huyện nọ sang huyện kia. Mà cuộc sống của bố cháu như đại đa số những người tỵ nạn ngày ấy là mọi sự đều chui nên cũng ít ai biết họ tên, tuổi thật của nhau, có ốm thì cũng đi “mua” giấy mà khám nếu không mượn được của ai.

Bố cháu có đi làm nhà hàng cuả bác L ở tỉnh ấy, huyện nọ bên Tây Đức và bác là người rất nhiệt tình với gia đình cháu trong việc tìm kiếm bố cháu.

Mãi đến khi bệnh chắc nặng quá rồi, không thể làm khác được và để hy vọng được chữa bệnh thì bố cháu mới đi nhập trại, nhưng không ai biết với tên nào mà với tên giả thì tên gì? Bác L có đi hỏi thăm khắp nơi như Sở Ngoại kiều, trại tỵ nạn hay các bệnh viện là những nơi mà bác ấy nghĩ rằng bố cháu có thể xuất hiện thì đều được họ cho biết là không có ai tên như tên bố cháu cả.

Chắc bố cháu lấy tên giả để nhập trại nhưng cũng không ai biết tên gì cả. Nên khó khăn vô cùng.

Còn cô Ng kể rằng cô có nhìn thấy một người Việt bụng to trướng nhập trại vào trại tỵ nạn ở O mà cô đang ở rồi phải đưa đi cấp cứu ngay vì bệnh nặng quá. Cô ấy chắc đấy là bố cháu. Nhưng cô không biết được chuyển đi đâu và tên của bố cháu trong trại là gì.

Rồi vì ngại nhà chức trách hỏi han nên dù có tốt nhưng mọi người nói chung ngại, đều không muốn liên hệ để tránh phiền phức. Nếu bác liên hệ được với bác L và cô Ng để hỏi thêm được thông tin thì tốt quá. Tuy họ hàng nhà cháu vào lúc ấy cũng có vài người nữa ở Đức, nhưng cũng không biết gì hơn về bố cháu và họ cũng đã về VN rồi bác ạ. Bặt vô âm tín.

Tóm lại là thông tin rất mờ mịt.

Biết sơ sơ tình hình như vậy. Tôi cũng bảo cháu là rất khó, quá khó vì chẳng có manh mối gì cụ thể như tên khai nhập trại, dấu vân tay… nhưng bác sẽ cố.

Cháu gửi bác ảnh của bố cháu để bác biết, nhưng bác cũng nói rõ là bác từ giờ đến cuối năm rất bận. Phải xong việc thì bác mới có thể lo được, nhưng trước hết bác sẽ đặt vấn đề với bà luật sư làm việc tại văn phòng bác về việc này để nhờ giúp bởi tôi nghĩ chỉ có thể bằng con đường này thì mới có thể hy vọng mà thôi.

Tôi không muốn gây cho cháu hy vọng nhiều vào một việc mà chính tôi cũng chưa nghĩ ra cách giải quyết cụ thể. Một việc mà chính tôi cũng không thấy manh mối gì và không biết bắt đầu thế nào.

Tuy bận việc như vậy nhưng tôi vẫn làm ngay những việc có thể làm vì biết rằng việc đã quá lâu, càng để lâu nữa càng mất manh mối. Lập tức tôi hỏi thăm trong câu lạc bộ, những mối quan hệ của riêng tôi… để tìm quanh vùng mà bố cháu, anh PVT, đã từng ở và làm việc trước khi mất tích.

Chị em ở câu lạc bộ đều rất hăng hái và mỗi người đều hỏi han khắp nơi. Người thì bảo là vùng này em có bạn quen ở, người khác thì nói chồng em trước cũng ở gần mạn ấy… Vậy nhưng rồi cũng chẳng có câu trả lời nào thật là rõ ràng được cả vì chuyện đã lâu và quá mông lung.

Ở mấy huyện ấy vùng ấy thì kẻ đi người ở, nước chảy mây trôi…cũng chục năm rồi… chẳng ai nhớ nữa. Mà rồi ai cũng lo công ăn việc làm. Tôi cũng đã tính rằng có khi tôi sẽ cầm ảnh của anh PVT sang Tây Đức, xuống vùng đấy một lần để lần mò….

 Tôi chưa liên hệ với cô Ng và anh L là hai người có lẽ có nhiều manh mối nhất trong chuyện này, phần vì nghe nói dù rất tốt nhưng sợ họ ngại ngần, phần vì tôi nghĩ rằng để đến khi thật cần sẽ liên hệ. Việc vẫn để đó.

Và cơ bản nhất là vì việc Đại Lễ 20 năm thành lập của câu lạc bộ chúng tôi mà tôi chưa thể tiến hành được. Bận một cách khủng khiếp.

Cháu TA theo yêu cầu đã gửi giấy uỷ quyền cháu đã ký cho bà luật sư và ba cái ảnh gần nhất trước khi mất tích của anh PVT, bố cháu. Những cái ảnh cuối cùng mà anh gửi về từ Đức cho vợ con, gia đình.

Khi cầm ba cái ảnh trên tay, tôi bàng hoàng vì nhớ đến giấc mơ năm nào mà mới mấy tháng trước tôi còn kể lại ở câu lạc bộ. Trong ảnh, cũng khuôn mặt hơi cạnh cạnh và tóc cũng lượn lượn sóng. Dù trong mơ nét mặt không rõ nét.

Và trong giây phút ấy tôi biết, bằng linh cảm của mình là sẽ tìm thấy anh PVT về cho gia đình dù chưa biết bằng cách nào, dù khó khăn kinh khủng như vậy mặc cho mọi người nói rằng là không có một cơ may nào cả, đừng nhận lời, nhỡ không tìm được thì sao…

Tôi thì lại nghĩ khác. Tôi nghĩ rằng mình cứ cố gắng đã. Nếu cố hết sức rồi mà mình không tìm được thì đành vậy, chứ chưa cố thì làm sao mình biết được hay không?!

Thế là sau những lần thư đi về để uỷ quyền cho bà luật sư, những thông tin về anh PVT đã từng ở đâu, làm gì, thời gian nào làm việc gì, tin tức cho vợ con ra sao, còn những tín hiệu sống đến tháng nào, bắt đầu từ bao giờ thì bặt tin, tin nhắn cuối cùng là gì, ai là người có thể cho biết thông tin của anh PVT trong những giai đoạn nào… Tôi và bà luật sư đều nắm chắc.

À quên, cháu TA có gửi sang cho tôi một cái dấu vân tay của bố cháu lấy ở CA tỉnh HB, trước khi anh PVT đi nước ngoài, nhưng do scan nên nhoè nhoẹt vì là scan từ một bản khai copie.

Dù trong thời gian rất bận như vậy nhưng tôi, cháu TA và HL vẫn liên lạc với nhau. HL còn mail cho tôi toàn bộ tin tức đã trao đổi với cháu thì thấy còn rối rắm và phức tạp hơn nhiều tôi nghĩ trong khi thông tin cần nhất như tên khai khi nhập trại tỵ nạn là gì thì không biết và dấu vân tay như vậy thì về nguyên tắc coi như không có.

Tình hình vẫn cứ lùng nhùng trong mớ bong bong tin tức như vậy. Sau Đại Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập, VINAPHUNU chúng tôi lại đi nước ngoài và vì việc tư gia đình nên tháng Mười Hai tôi mới về đến Berlin thì phải lo việc câu lạc bộ mà tháng ấy cũng là tháng cuối năm, họp hành liên miên và tổng kết, liên hoan cuối năm, triển khai công tác năm mới….

Nên đến giữa tháng Một tôi mới tiến hành chính thức việc tìm anh PVT với bà luật sư của văn phòng tôi, người đã hơn hai chục năm qua tận tình và giúp đỡ biết bao nhiêu phụ nữ Việt Nam qua khỏi cơn nguy khốn trong nhiều sự vụ cụ thể cũng như gián tiếp.

Bà luật sư bắt đầu tiến hành công việc thì tôi mới được biết rằng, các cơ quan công quyền như  Sở Ngoại kiều (Sở NK) hay Sở Tỵ nạn Liên bang (Sở TNLB) thì sau 10 năm sẽ xếp xó hồ sơ. Điều đấy có nghĩa rằng thời gian còn lại rất gấp gáp vì chỉ còn vài tháng nữa là đúng 10 năm ngày anh PVT mất tích.

Ngoài ra còn vấp phải một trở ngại lớn là việc tìm kiếm một người mất tích do một tổ chức sẽ thuận tiện hơn nhiều so với một cá nhân, dù người đó là luật sư, bởi gia đình cá nhân đó lại không có mặt ở đây. Và bà luật sư được gợi ý rằng có lẽ nên nhờ tổ chức Hồng Thập tự Đức (HTT Đức) đứng ra tiến hành.

Một sự may mắn không thể ngờ được là trước đấy không lâu, khoảng một tháng thôi, do một lần gặp gỡ vô tình đâu đó với một luật sư rồi chuyện trò qua lại thì bà luật sư được biết, ông ấy bây giờ không mở văn phòng như trước nữa mà  làm việc ở HTT Đức, chịu trách nhiệm về việc tìm kiếm người mất tích. Và ông này là người quen cũ của chúng tôi.

Đầu thập niên 90 việc cư trú của người Việt là nóng bỏng, mấu chốt hàng đầu. Việc cộng tác với nhiều văn phòng luật sư để cùng tranh đấu cho quyền được ở lại của cá nhân cũng như của cả cộng đồng đòi hỏi nên tôi quen biết với rất nhiều luật sư chuyên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng chủ yếu là luật Hình sự và luật Ngoại kiều. Một trong những người mà đã từng quen biết và cộng tác với VINAPHUNU là ông luật sư này. Thậm chí có lần tôi còn mời ông làm một buổi báo cáo tại câu lạc bộ chúng tôi về việc Sửa đổi và Bổ sung luật Ngoại kiều. Tham dự còn có rất nhiều luật sư khác.

Nhưng để khởi động một vụ tìm kiếm người mất tích, nhất là lại quá nhiều năm đã trôi qua và không có một manh mối nào như dấu vân tay và tên tuổi nhập trại, hai yếu tố chính, thì quả không phải là một chuyện dễ dàng.

Và trước tiên, HTT Đức yêu cầu phải chứng minh được rằng đúng là có một người như vậy và người đó thật sự bị mất tích. Những thông tin này phải thật thuyết phục. Nhỡ đâu họ vì một lý do gì đó mà muốn trốn bỏ gia đình, làm một cuộc sống mới không dây dưa gì với quá khứ (chuyện này không phải hiếm?) Những thông tin đó thật và đáng tin cậy đến mức nào?…

Một lần nữa tôi phải đọc và nghiên cứu lại kỹ lưỡng toàn bộ cháu TA viết cho tôi và cho HL. Sau đó tôi liên lạc với cháu để khẳng định rằng việc bố cháu có ở Đức trong những thời gian như đã nói, bố cháu là một người gắn bó với gia đình bằng chứng là thỉnh thoảng lại gửi số tiền gom góp được về cho vợ con, cứ ba ngày gọi điện thoại một lần, chỉ có mỗi lần cuối là cách một tuần và sau đó thì mất đứt liên lạc và mất tích luôn từ đầu tháng Bảy 2002… để loại trừ khả năng người mất tích là do tự ý muốn.

Đến bây giờ thì tôi thấy cần phải liên hệ với hai người biết nhiều nhất thông tin về anh PVT. Đó là cô Ng, người đã nói rằng thấy một người Việt Nam (mà chắc chắn là anh PVT) bị ung thư gan, bụng to trướng cấp cứu đi viện từ trại của cô vì cô ở cùng trại tỵ nạn.

Đó là anh L, chủ quán nơi anh PVT đã từng làm việc và cũng chính anh L là người sau khi anh PVT mất tích đã cố công đi tìm khắp nơi- lên cả Sở NK, bệnh viện, nghiã trang… và được họ trả lời là không hề có người tên tuổi thế này nhập trại, nhập viện hay là chết.

Ngược lại với những e dè của tôi vì thấy cháu TA cứ có ý nói rằng sợ liên lụy nên có khi các bác các cô có biết những thông tin về bố cháu cũng ngại ngần. Cô Ng đã rất hăng hái nhiệt tình kể với tôi tất cả những gì cô biết và thậm chí nhiệt tình đến mức có ngày cô gọi điện cho tôi đến cả sáu, bảy lần mỗi khi nhớ ra điều gì hay cần sửa đổi điều gì mà do thời gian lâu quá cô nhớ không đúng hoặc chưa chính xác. Chẳng hạn như khi thì cô nhập trại đầu tháng Hai, khi thì tháng Năm, tháng Sáu hoặc đường đến trại cũ ấy như thế nào vì tôi bảo có thể tôi và bà luật sư sẽ sang và đến tận nơi trại ở O một lần…

Nhưng tựu trung lại thì thông tin chính cũng vẫn là cô nhập trại trước ít lâu thì thấy một người Việt ốm bệnh, bụng đã to trướng vì ung thư gan giai đoạn cuối (cả vùng đó người Việt ai cũng biết- theo cô) đến nhập trại. Vài ngày sau đó thì cô bảo xe cấp cứu đến chở cái người Việt ốm ấy đi rồi, không thấy quay về. Chắc chắn đó chính là anh PVT, người bố mất tích mà cháu TA đi tìm, và đã chết, tin đồn khắp nơi như vậy. Khắp nơi đây có nghĩa là trong cộng đồng tỵ nạn ở vùng O, không ai là không biết cái ông bị ung thư gan ấy đã chết rồi. Chỉ có điều không biết ở bệnh viện nào, ở O này hay đến OBr.

Chuyện với anh L cũng vậy, anh rất nhiệt tình kể hết những gì anh biết, những gì anh đã làm. Theo anh thì cũng có thể do bệnh vậy mà anh PVT được chở đến H là một thành phố lớn phía Bắc chăng? Vì ở đó có bệnh viện chuyên về các bệnh nhiệt đới.

Và anh L có thêm một chi tiết là phải chăng anh PVT đã bị giết vì theo anh nói rất có thể trong lúc bệnh, nhưng chưa hẳn đã liệt giường liệt chiếu thì anh PVT vẫn muốn làm việc chui như đi chở hàng thuê sang phần Đông Đức để có một khoản tiền cho gia đình chẳng hạn?!

Thông tin này rất phù hợp với thông tin cháu TA kể rằng nhà cháu đi áp vong hai lần thì cả hai lần vong bố cháu qua người bác dâu đều khóc nức nở và nói rằng bị người ta, một nữ một nam giết chết, chôn trong rừng, không tìm được đâu, xa xôi cách trở… Đừng đi tìm.

Thông tin anh L thấy cũng rất có thể bởi anh L nói rằng anh đã đi Sở NK và một vài bệnh viện, nghĩa trang hỏi nhưng người ta đều nói không có người tên này, tuổi này nhập trại và chết vào khoảng thời gian đó. Nên anh L nghĩ rằng anh PVT đã dùng tên giả để nhập trại và không biết tên ấy là gì. Thập phần khó khăn. Bế tắc.

Vì đang trong giai đoạn lần mò, nên tôi cám ơn sự nhiệt tình của cô Ng và anh L và chỉ yêu cầu họ rằng nếu khi luật sư hỏi thì cứ trả lời như đã kể với tôi, đừng ngại gì, mình mỗi người cố công một tí để anh PVT về được với gia đình. Riêng với anh L tôi có yêu cầu rằng nếu được ông luật sư hay HTT Đức hỏi thì đừng nói ý kiến của anh về việc có thể anh PVT bị giết rồi vì như thế sợ nhiễu thông tin.

Chỉ cần anh L nói về thông tin anh PVT đã ở những nơi anh L biết, đã làm ở quán anh, đã bị bệnh gan mà có lẽ là ung thư gan… Thế là tạm thời đủ đã. Vì nếu sau này không tìm ra hướng trại tỵ nạn rồi ốm đi bệnh viện thì mình tìm hướng kia vẫn được. Còn nếu bây giờ tung ra nhiều thông tin quá, sợ nhiễu.

Tôi và anh L nhất trí với nhau như vậy.

Bằng những thông tin của cháu TA , anh L và cô Ng cung cấp, tôi cũng đã thuyết phục được ông luật sư và HTT Đức là việc ông PVT này là có thật và đã bị mất tích từ tháng 7. 2002, không thể có khả năng ông ấy bỏ gia đình được và việc đi tìm ông ấy cho gia đình là một việc làm rất cần  nhanh chóng vì chuẩn bị hết thời gian 10 năm lưu trữ hồ sơ công sở của Sở TNLB.

Không hiểu sao bằng trực giác tôi rất tin thông tin của cô Ng bởi cô là người cuối cùng nhìn thấy thật sự anh PVT ở trại và tuy không thấy tận mắt anh ấy được chở đi bệnh viện nhưng những người cùng trại nói lại với cô rằng cái người Việt bệnh gan mà bụng bị trướng lên ấy đã được chở đi cấp cứu. Mà trong một trại, hay một thành phố có cộng đồng người Việt tỵ nạn mà có một người bệnh xơ gan cổ trướng chết đồn nhau thì chắc hiếm khi trùng lặp.

Và sau đó qua bà luật sư tôi trình bày hết lập luận và suy nghĩ của mình để bà ấy tác động đến ông luật sư, vì thời gian đã gấp gáp lắm rồi. Chuẩn bị còn có ba, bốn tháng nữa thôi là kỳ hạn xếp xó hồ sơ của Sở TNLB rồi còn gì.

Tất cả những việc đó là thông tin đi lại trong tháng Hai, tháng Ba. Tôi đã có ý định, có thể tôi với bà luật sư phải xuống trại tỵ nạn ở O để hỏi vì sẽ dùng phương pháp loại trừ. Khoảng tháng này, năm này có những người Việt nào nhập trại đó. Mà người đó lại bị bệnh gan, lại xe cấp cứu chở từ trại ấy đi thì đi đâu, đến bệnh viện nào… rồi từ đó tra tiếp. Nói vậy nhưng đâu có đơn giản vậy. Một vạn thứ thủ tục hành chính nhiêu khê, rồi thời gian, công việc… của bà luật sư, của tôi cho khớp.

Không thấy tin tức gì về phía ông luật sư cả.

Nhiều khi tin tức mịt mù , bóng chim tăm cá. Cũng nhiều người gàn cho rằng khó khăn quá. Tin này đã đăng trên báo chí tin tức cộng đồng hai, ba năm nay mà không được, chẳng ai giúp được thì làm sao mình tìm được. Thôi người ta đã mất rồi thì thôi.v.v…

Nhưng quả thật tôi chưa bao giờ thấy khó, thấy hết hy vọng, thấy không thể giải quyết được…việc này. Tôi suy nghĩ rất nhiều về người đàn ông trong giấc mơ năm nào và tôi biết trên đời chẳng có gì là ngoài cái lý nhân duyên cả.  “Nhất ẩm nhất trác, giai do tiền định”- Một miếng ăn, một hớp nước uống còn là tiền định cơ mà.

Vậy trong vô lượng kiếp trước, hẳn tôi và người đàn ông này đã từng quen biết nhau lần nào đó, bao giờ đó, nợ nần nhau một miếng ăn hớp uống rồi cũng nên, nên anh ấy đã gửi gắm và cám ơn tôi. Vậy việc này chắc là xong thôi!

Suốt cả thời gian này tôi chỉ kể lại cho các bạn ở câu lạc bộ chứ tuyệt nhiên tôi không hề kể với gia đình cháu TA hay cô HL, anh L, cô Ng…. Dù tin tưởng vậy nhưng việc chưa có kết quả gì lại mông lung như thế nên tôi thấy chưa nên nói ra. Tôi tin chắc chắn rằng sẽ có một ngày sẽ tìm được manh mối về anh PVT để gia đình anh ấy biết và để hương hồn anh ấy được về yên nghỉ bên gia đình.

Trước kia tôi rất sợ ma hoặc tóm lại là những gì vô hình, không thuộc về thế giới này. Nhưng càng ngày tôi càng hiểu rằng thế giới tâm linh là có thật dù còn biết bao việc không thể giải thích một cách dễ dàng được, là thường khi một linh hồn nào có điều gì đó còn vướng nợ trần gian, muốn nhắn gửi một điều gì hay còn một nguyện vọng nào đó thì họ hay cho mình biết thông qua dưới nhiều hình thức như một giấc mơ chẳng hạn. Những người có duyên gặp gỡ họ, sẽ giúp họ hoàn thành ý nguyện.

Là người ở kiếp này, mình tu tập dễ hơn và vì vậy mình nên giúp đỡ họ, hãy làm tất cả những gì mình có thể. Chẳng cần xây phù đồ (stupa) tận đẩu tận đâu. Hãy cứ nhìn quanh ta từ những việc nhỏ nhất.

Bởi vậy nghĩ lại thấy người đàn ông này cám ơn có nghĩa là việc này chắc phải xong thôi. Nói vậy thôi chứ tôi sốt ruột quá vì ngày hạn mười năm sắp đến, nói cháu TA “chạy” ở nhà cái chứng minh thư của anh PVT mãi không được vì CA VN sợ mình sử dụng vào việc gì đó. Chứ có cái CMT này thì có dấu vân tay sẽ dễ dàng hơn nhiều. Mà tôi lại chuẩn bị đi phép. Cũng phải cả tháng không có mặt ở Berlin.

Vậy mà không tưởng tượng nổi, phép màu đã xảy ra. Đúng trước hôm tôi chuẩn bị đi hai hôm thì bà luật sư nhận được tin ông luật sư thông báo là đã tìm thấy thông tin đầy đủ về anh PVT. Ngày sinh tháng đẻ tên tuổi thật hoàn toàn khi anh PVT nhập trại. Sở Tỵ nạn Liên Bang đã tìm ra anh.

Nghe bà luật sư báo tin chính thức, rồi đọc thư trả lời của ông luật sư, của Hồng Thập tự Đức mà tôi vui mừng đến ngỡ ngàng, không tin tai mình, mắt mình nữa. Nghiền ngẫm mãi thông tin đó phải nửa ngày thì niềm vui như vỡ oà ra, mới tin đó là sự thật. Tôi loan báo khắp nơi. gặp ai tôi cũng kể, rồi người nọ kể cho người kia, cả VINAPHUNU các cô bác chị em đều mừng vui và mừng cho gia đình anh PVT.

Ngay sau đó, tôi gọi điện báo cho cháu TA và HL. Cả hai đều không ngờ một việc quả là “Mò kim đáy bể” và “không thể tưởng tượng nổi” có thể thành công như vậy, nhanh hơn mình dự đoán, đơn giản hơn mình dự đoán. Hai chị em mừng líu cả lưỡi còn TA qua điện thoại mà tôi biết cháu nghẹn không nói nên lời.

Cái sự mừng của bà luật sư, của chị TH phiên dịch trong những giờ tư vấn luật, của tôi, của tất cả chị em cô bác trong câu lạc bộ thì không sao kể xiết. Cái mừng như mỗi người tìm được người thân của chính mình vậy. Bởi nó khó khăn quá, chẳng có tí manh mối nào, họa là “mò kim đáy bể”…thế mà rồi…

Việc tìm ra tung tích anh PVT, dù đã mất như dự đoán, rất khớp với những thông tin của cô Ng nhưng việc di chuyển của anh lại theo một hướng khác hẳn phỏng đoán.

 Anh PVT nhập trại ở O, sau đó được phân về trại D nhưng do bệnh nặng nên cấp cứu về bệnh viện B, một huyện nhỏ gần D. Sau đó chuyển lên bệnh viện chính ở D, mất tại đó và được hỏa thiêu vào ngày ấy giờ ấy, rồi được chôn cất tại D. Như vậy là anh PVT đã nhập trại với tên tuổi thật của mình và mất cũng với tên tuổi thật của mình.

Sau đó hỏi thì được biết thêm chi tiết về việc hỏa thiêu, chôn cất cụ thể ở nghĩa trang, số khu mộ, lệ phí mai táng còn bao nhiêu, nếu muốn mang hũ tro về thì có được không vì nghe nói hũ tro chôn vô danh vì khi anh PVT mất là không có họ hàng bạn bè thân quyến gì thì hình như chỉ có một khoảng thời gian nhất định nào đó sau đó là nó tan ra, không thể đào lấy lên được nữa (Chả hiểu hư thực thế nào?). Và nếu được thì tiền lệ phí từng việc như đào lên, chuyển hũ tro, thủ tục hành chính giấy tờ… là bao nhiêu?

Rồi việc quan trọng nhất là cháu TA và gia đình có nguyện vọng sang để mang hũ tro bố về thì thủ tục xin visa vào Đức, rồi giấy phép mang hũ tro vào Việt Nam phải có giấy chứng tử, giấy kiểm tra của vệ sinh dịch tễ… bố trí trong thời gian dù là rất ngắn khi TA sang Đức thì nên đi hãng máy bay nào, đi phương tiện nào cho hợp lý vì quãng đường Berlin- D cũng không phải gần, đi lại ra sao, để gửi hũ tro tại chùa trong lúc chờ máy bay vì không nhất thiết sẽ khớp được lịch bay…

Đó còn rất nhiều việc phải tính và phải làm cho đến khi anh PVT về được đến nhà với vợ con. Nhưng về cơ bản công việc đã hoàn thành và việc về đến nhà chỉ là chuyện ngày một, ngày hai mà thôi.

Công việc tư vấn xã hội của tôi là một công việc rất nặng nhọc, đặc biệt là gánh nặng về tinh thần. ¼ thế kỷ qua có rất nhiều hoàn cảnh, rất nhiều con người, nhiều trường hợp để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc vì những sự khó khăn, rắc rối, tính phức tạp… cuả nó. Và đây là một.  Và cũng bởi trường hợp này còn có liên quan đến vấn đề tâm linh. Có nhiều chi tiết trong việc này khó có thể giải thích được mà chỉ có thể nói đó là cơ may mà thôi, hay ta còn gọi là duyên phận.

Vì suy tính và đi đúng đường hướng, vì gặp những người nhiệt tình, vô vụ lợi như bà luật sư, ông luật sư, HL, cô Ng, anh L, vì có những sự bỗng dưng may mắn như sao gần mười lăm năm không gặp gì ông luật sư, bỗng dưng hai luật sư lại vô tình gặp lại trước đó không lâu để biết rằng, ông chính là người phụ trách vụ tìm kiếm người mất tích của HTT Đức, người mà khoảng tháng sau sẽ là người quan trọng nhất, quyết định thành công của cuộc tìm kiếm này… và sao anh PVT lại báo mộng cho tôi, một người chẳng quen biết gì kiếp này từ những sáu, bảy năm về trước…

Việc vì sao anh PVT lại khai tên tuổi thật cũng là chuyện dễ hiểu bởi tôi đoán chắc rằng anh biết mình bệnh nặng sẽ mất và để gia đình sau này tìm được dễ dàng.

Thế nhưng vì sao trong suốt gần ba tháng từ khi anh bệnh nặng đến khi mất mà anh không một lần gọi về cho vợ con dù anh là người trước đó thường xuyên đều đặn gọi điện thì giờ chắc chỉ có mình anh biết mà thôi. Nhưng cũng có thể do tình trạng bệnh tật đã nặng, có thể không nói được tiếng Đức… có muôn ngàn lý do để trong cuộc đời này người ta không làm được như ý mình mong muốn chứ.

Còn chắc vì sao anh L dù đã cố công vậy mà không hỏi được, tôi cũng tin đó là việc nhân duyên.

Có nhiều điều trong việc này mình không thể lý giải hoàn toàn được. Nhưng quan trọng nhất là đã tìm ra anh PVT về cho gia đình anh, cho người vợ mỏi mòn bao năm ngóng chờ tin chồng, người chồng mà vì hoàn cảnh khi ấy phải dứt áo ra đi để kiếm tiền nuôi gia đình, cho hai đứa con khi ấy còn bé dại ở lại… Những năm tháng ấy ai phải trải qua mới hiểu ngọn ngành những hy sinh, được mất cuả người ra đi và người ở lại.

Trường hợp anh là một trường hợp điển hình của bao số phận long đong trên xứ người. Khác nhau ít nhiều nhưng về nguyên tắc là một vậy không thương nhau mà giúp đỡ nhau hết tình sao được.

Nhưng theo tôi điều quan trọng nhất là lòng hiếu thảo của cháu TA, mong muốn nguyện vọng cháy bỏng của cháu là tìm thấy người bố mất tích từ mười năm trước khi cháu còn bé đã cảm đến trời đất.

Trong những việc tâm linh như thế này, lòng người thân quan trọng lắm, quyết định rất nhiều việc thành công hay không. Đó chính là phúc phần của gia đình anh PVT.

Những cơ may hay những sự thuận lợi mà chúng tôi “bỗng dưng” có được cũng là do cơ duyên mà phúc phần của gia đình anh PVT mang lại. Và chúng tôi thực ra cũng chỉ là phương tiện mà thôi.

Tôi đã nói vậy khi gặp gia đình cháu TA trong chuyến phép vừa rồi ở Hà Nội, khi anh trai, chị dâu, em trai và vợ anh PVT cám ơn tôi và tất cả sự giúp đỡ của cô HL, anh L, cô Ng, ông và bà luật sư cũng như câu lạc bộ VINAPHUNU.

Bởi thế càng ngày tôi càng biết rằng có những việc không ai biết nhưng trời biết, đất biết, quỷ thần biết. Mình hãy gắng sống làm sao cho lòng mình thanh thản, làm được điều gì giúp ai thì làm ngay, đừng nề hà… bởi như vậy đời sống mình sẽ rất nhẹ nhõm, an bình.

Mặc cho những khó khăn để cháu TA xin được vi sa vào Đức mang di hài bố về, mà cụ thể ở đây là hũ tro, còn nhiều sự rắc rối, khó khăn như phải công chứng đủ thứ giấy tờ, gửi giấy chứng tử, giấy mời…, rồi thư từ liên lạc với Dortmund, với thành phố, với phòng quản trị nghĩa trang để xin giấy chứng nhận hoả táng của lò thiêu, giấy hải quan được ra khỏi Đức, giấy đồng ý an táng của địa phương …rồi đại sứ quán Đức ở Hà Nội yêu cầu những giấy tờ này, đại sứ quán VN ở Berlin đòi hỏi đủ giấy tờ khác, cái thì gửi sang, cái thì gửi về… nhưng tôi đã nhìn thấy ngày đôi cánh máy bay của Vietnam Airlines tung bay trên nền trời xanh mang anh về với gia đình, với quê hương, với đất mẹ… không còn xa.

“Đường trần khuất nẻo, sẽ không bao giờ gặp nhau nữa” anh PVT à, ở kiếp này nhưng biết đâu trong vô lượng kiếp sau… Còn duyên thì mình còn gặp lại mà. Mong anh thanh thản, nhẹ bước…

Berlin, Mai- Juli. 2012