DSC01760

Trời đìu hiu và ảm đạm. Tỉnh dậy mình nằm nướng trên giường và nhìn qua cửa sổ. Một chủ nhật mùa thu như bao chủ nhật khác. Berlin lá vàng đã rụng ngập các lối đi, thậm chí có những cây rụng hết không còn lá nào, trơ ra những cành nhánh khô khẳng. Đã đầu tháng Mười Một còn gì. Nhưng phải nói năm nay mùa thu đẹp. Berlin khô ráo và khá ấm so với mùa này của năm, nhẽ thường là ẩm ướt lạnh lẽo lắm rồi.

 

Mình thu lu trong hơi ấm của chăn và nhớ đến những tháng ngày đi ở. „Đi hay ở ? “. Đó là câu hỏi mà trong suốt những tháng ngày này của 25 năm trước luôn bức bách mình. Và chắc cũng không phải chỉ mình mình. „Đi hay ở ? „ Câu hỏi ấy đã được đặt ra kể từ sáng ngày 10.11.1989 và còn trở đi trở lại mãi về sau này. Cho mình và chắc chắn không chỉ cho riêng mình mà còn cho tất cả những ai đã trải qua những tháng ngày sôi động ấy. Những tháng ngày mà khó có thể có một quyết định làm ta thật hài lòng, thật yên tâm về quyết định ấy bởi muốn hay không muốn người ta đều bị chao đảo không nhiều thì ít do sự đặc biệt hoàn cảnh. Đều phải tự hỏi, mình quyết định vậy đã đúng chưa? Mình có sai lầm không? Sắp tới mình sống thế nào? Cũng như quyết định „Về hay ở ?“ của khoảng một năm sau khi bị nhà máy cắt hợp đồng lao động và thải hồi hàng loạt để nhận tiền đền bù bằng ba tháng lương cuối cùng nếu về nước, còn ở lại là một tương lai vô định. Về đâu? Ở đâu? Sống bằng cách nào? Cư trú ra sao?…

 

Sáng mùng 10.11, khi bước chân vào nhà máy, mình chỉ cảm thấy một không khí là lạ. Chưa kịp nói gì. Lên phòng tổ chức cán bộ để nhận một công việc gì đó là một việc làm quen thuộc hàng ngày, mọi việc vẫn nguyên nhưng vẫn có một điều gì đó xao động. Nhưng khi vừa xuống đến xưởng thì lập tức các đồng nghiệp Đức vây đến „Thu ơi, Thu ơi, biết gì chưa? Bức tường đổ rồi đó, bức tường đã được mở“. Mình còn đang ngơ ngác vì vẫn chưa định thần để hiểu bức tường được nói đây là bức tường nào. Khi các đồng nghiệp Đức nói „Thế là chúng ta sang được Tây Berlin đấy, đi không? Chúng tôi đi đây. Chào nhé!“. Rồi sau đó một số người đã không bao giờ mình còn gặp lại giữa biển đời mênh mông này…

 

Mình nằm nướng trên giường và muốn một ngày trọng đại như ngày hôm nay chỉ mình mình với mình thôi. Để cho mọi kỷ niệm thấm đẫm từ trong ký ức mình được trở về một cách nguyên thuỷ nhất, không bị những thiên kiến, những nhận thức đã thay đổi theo thời gian can thiệp.

 

ARD chiếu liền mấy phim về bức tường, về thời kỳ chia cắt Đông Tây đó mà hầu như mình đều đã xem, nhiều khi không phải chỉ một lần.  Ví dụ như  phim „Phía bên kia bức tường“ mình không phải xem lần đầu vậy mà lần nào sự đau đớn cũng như nhau. Đau thắt ngực, nước mắt mình chảy cho lần thứ bao nhiêu mỗi khi cảnh đôi nam nữ thanh niên biết mình chết mà vẫn liều nhảy lên hàng rào dây kẽm gai với một hy vọng cuối cùng là thoát, cho cảnh hai đứa trẻ bị bắt cùng bố mẹ khi trốn trong cốp ôtô bị công an lôi ra… Và cảnh những lính biên phòng thẳng tay bắn vào cô gái, cô rơi từ hàng rào xuống bên cạnh người yêu mình cũng bị trọng thương đầm đìa máu…. Không hề cường điệu. Bởi mình biết đó là những sự thật mà mình không được chứng kiến nhưng nó đã xảy ra trong lịch sử xoay quanh bức tường này.

 

Bức tường với mình ấn tượng nhất là những năm 70, khi còn là học sinh ở đây, chiều nào đi học về mình cũng thấy những người Tây Berlin đứng trên một chòi cao, bên kia bức tường, khăn tay chấm nước mắt nhìn về bên này. Mình biết, bỗng phút chốc mà họ bị chia cắt với gia đình, họ hàng, bè bạn… nên đó là những giọt nước mắt đau thương. Nó như những giọt nước mắt hai bên bờ Bến Hải Việt Nam vậy, đổ ra không biết bao năm ròng chia cắt và gia đình mình không là một ngoại lệ mà cũng như hàng vạn, hàng triệu gia đình VN khác. Con người ta thường bị đẩy hay được đẩy thì cũng vậy thôi vào những hoàn cảnh khác nhau và vô cùng bất lực trước tình thế. Đời không thể đơn giản nói rằng „Tôi sẽ thế này hoặc sẽ thế kia“. Khi ta từng trải một chút ta sẽ hiểu điều đó dễ dàng hơn và thông cảm với con người hơn, vị tha hơn. Nếu ta đặt mình vào những vị trí đó…

 

Mình nhớ một chiều, từ trường ra, mình đi về cùng một ông giáo và hỏi ông về những người trên chòi kia. Ông giải thích rằng họ đã quyết định sai lầm khi họ bỏ tổ quốc Cộng hòa Dân chủ Đức của mình. Ông nói một cách nhiệt thành bởi ông tin điều ấy là đúng. Với một con bé học sinh nước ngoài thì việc gì ông phải sợ hãi mà nói dối. Trừ thứ nhất ông tin vào chính những điều ông nói. Thứ hai là ông muốn tin vào những điều ông nói mà thôi. Có lẽ cả hai. Nhưng ngày ấy mình trẻ lắm. Đời còn nhiều niềm vui khác. Và sự thông cảm với nỗi đau của con người cũng hời hợt, nhàn nhạt, vậy vậy thôi. Nhưng kỷ niệm về bức tường chia cắt Berlin cứ theo mình mãi những năm tháng sau này mỗi khi mình nhớ đến Berlin. Kể với bất kỳ ai về Berlin bao giờ mình cũng nhớ những đôi mắt mọng nước và tiếng nức nở sau khăn tay của những người đứng trên cái chòi ấy vào những lúc chiều tà, tan tầm… Cái thời khắc của chim về tổ, của „Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà“ ấy dễ làm lay động lòng người.

 

Khi quay sang lại, gần chục năm sau, mình đã là một con người khác. Đời dậy cho rất nhiều điều và mình trưởng thành lên rất nhiều. Bức tường Berlin đã được mình nhìn dưới một con mắt khác. Mình đã thấy sự đau đớn của một dân tộc bị chia cắt. Còn phi lý không thì mình chưa muốn lạm bàn bởi có nhiều điều hiển nhiên phi lý với người này mà lại cũng rất hiển nhiên có lý với người khác, nhất là vấn đề chính trị. (Phản động thế đấy! Đành chịu, nhưng mình là người thật, rất thật với chính mình và cả với thiên hạ, mình chỉ nói, chỉ viết cái mình nghĩ được thôi, không giả vờ hay a dua được. Ai phê phán thế nào cũng đành chịu. „Gái goá không lo việc triều đình „ được. Xin cho hai chữ bằng an!)

 

 Mình có ông sếp nhà ở ngay sát một đoạn chân tường, nơi mà chỉ những cán bộ trung cao gì đó hay là phải có những tiêu chuẩn gì đó như Stasi mới được ở. Mà dưới thời Đông Đức thì cứ năm người đã có ba người là nằm trong đội quân mật vụ này rồi, để bảo vệ chế độ. Nghe bảo vậy, chả hiểu hư thực đến đâu. Mà thực ra có chế độ nào không vậy đâu nhỉ nếu vì quyền lợi của thể chế mình gìn giữ, vấn đề là thực hiện ra sao thôi. Nhà máy mình làm và nhà bạn mình không cách xa bức tường bao nhiêu nên mình hay đi qua và khi quan sát bức tường mình chỉ nghĩ đến nỗi đau ly biệt của con người. Những mối quan hệ gần gũi trong đời như bố mẹ, cha con, chồng vợ, ông bà, bạn bè, yêu đương tình nhân… xa hơn nữa thì hàng xóm, láng giềng, đồng nghiệp… Bỗng chốc mà chia cắt, không có hẹn ngày tái ngộ. Đau đớn. Bứng ra khỏi nơi mình sinh sống dù là sự lựa chọn của chính mình nhiều khi còn đau đớn khôn nguôi nữa là…

 

Đoạn mà rõ ràng nhất là ngay cổng thành Brandenburg. Nơi mà bây giờ là Quảng trường Paris, trước khách sạn Adlon thì xưa là bãi đất trống, người ta chỉ được nhìn Cổng thành cách khoảng cả trăm mét. Trong trăm mét ấy là vùng đất cấm, cũng chưa thấy ai liều mạng chạy trốn ở đoạn này cả. Nhưng trong nhà máy thì mình thường xuyên nghe các đồng nghiệp kể vừa có vụ chạy ở Thüringer bằng máy bay chở phân hay là có người mới bơi sang sông khúc này, khúc kia của sông Spree và thoát đấy hoặc bị bắt rồi. Ít lâu trong nhà máy lại thấy xì xào, ông này, bà này vừa xin đoàn tụ với gia đình ở Tây Berlin và đã đi nhưng những tin người bị đi tù vì trốn và bị bắt thì ít hơn, kín hơn, nhưng vẫn lọt ra, xì xầm như một dòng chảy thầm kín trong dân chúng… Và mình vẫn được nghe bạn gái rất thân của mình có bố sống bên Tây Berlin nên cô ấy được đi thăm luôn luôn, về hay kể về cuộc sống bên đó. Mỗi khi cô ấy về đều thấy Đông Berlin „Như một thành phố chết“ vì không đèn đuốc rộn ràng, trống kèn cả đêm như bên kia, bởi người dân còn phải đảm bảo sức khoẻ để sáng mai xây dựng tổ quốc XHCN trong xí nghiệp, nhà máy, công sở…

 

Mình lại nhớ Việt Nam những cuối những năm bảy mươi đầu những năm tám mươi khi phong trào di tản đang rầm rộ. Đại gia đình mình cũng là một trong những nạn nhân bi thảm của phong trào này, để một ông chú là luật sư toà thượng thẩm của VNCH nay đi tù mai đi tù vì di tản không thành công, bị bắt lại, một thằng em họ chết mất tích trên biển mà đến giờ mẹ nó vẫn ngóng chờ, một thằng em họ khác niềm hy vọng của bố mẹ nó vì thông mình sáng láng nhất nhà được kỳ vọng nhất nhà thì bị điên khi sang đến Mỹ. Không hiểu do áp lực cuộc sống hay do ám ảnh của chuyến vượt biển ấy mà nó hoá điên. Là người dát hoặc là do ý thức chính trị không rõ ràng gì hoặc nói cụ thể ra là quá kém (như nhiều người nhận xét) nên kể cả khi một bà cô mình thấy mình mới ở nước ngoài về, rủ đi vượt biên, mình cũng không đi. Mình đã không ở lại CHDC Đức ngày ấy theo tiếng gọi của tình yêu cũng vì yêu bố mẹ và anh trai mình thì làm sao bây giờ mình lại dám đi theo mấy đứa em họ mình được. Lênh đênh đến một bến bờ vô định với bao nguy hiểm rình rập, cho dù biết bao người thành công và giầu có nơi miền đất hưá. Nhà mình sung túc, đầy đủ, hạnh phúc… Mình không có động lực nào thúc đẩy để phải rời bỏ tất cả những hạnh phúc mà mình đang có để đổi lấy cái mình chưa có mà chưa chắc đã hơn. Mình về bản chất là con người thủ cựu, sợ thay đổi, sợ nguy hiểm… nên nhiều khi thành ra trung thành, chung thủy mới chết chứ! Ấy cho nên cái sự chung thủy ở đời lắm lúc cũng là do ngại thay đổi mà ra thôi chứ chẳng phải đáng được ca ngợi nhiều thế đâu. Cũng với suy nghĩ ấy mà mình đã không đi sang Tây Berlin những ngày sau đấy. Dù đêm ấy mình đã đi.

 

Ngay hôm ấy, đêm mùng mười, mình quyết định đi. Bởi cơ hội chỉ sợ không bao giờ trở lại. Bởi còn có thông tin là biết đâu sẽ đóng lại tường. Không kịp thông tin về VN, ngày ấy thư từ tin tức đi lại đâu có như bây giờ, mình nghĩ nếu đi thoát mình sẽ viết thư cho bố. Trên người mình chỉ có một cái đãy, những thứ mình cho là quan trọng nhất, thư từ của bố mình, ảnh của gia đình, kỷ niệm của mẹ mình, còn Dollar, DMark và tiền tiết kiệm được nhét vào trong con thỏ bông ba lô con gái đeo. Con gái khi ấy mới vừa sinh nhật tám tuổi xong có một tuần. Mặc thật ấm… hai mẹ con chen vào dòng người nô nức, như nêm ấy, nhích từng bước một… để đến điểm biên giới giữa Đ-T là cầu Böse ở gần đại lộ Schönhauser đi lên. Cây cầu mà sau đó độ dăm năm là nơi phải „đóng thuế“ bán thuốc lá nhiều nhất, nơi tranh chấp giữa các băng đảng Việt Nam nổi tiếng bởi mại lực cũng như mãi lực của thuốc lá lậu kinh khủng, lời cũng kinh khủng nên có những thời kỳ tiền thuế cả trăm ngàn DMark cho một tháng tại đó. Bao nhiêu người thì chia đầu người ra mà đóng. Nhiều thì đóng ít mà ít thì mỗi người sẽ đóng nhiều. Và hệ quả là không biết bao người cũng từ cây cầu này mà uổng mạng do những tranh chấp không tiền khoáng hậu này. Đây cũng chính là cây cầu mà khi kỷ niệm 20 năm bức tường bị phá vỡ, nghĩa là trước đây năm năm, là nơi các chính khách nổi tiếng, những người đã đóng góp rất nhiều cho sự thống nhất của dân tộc Đức này như Gorbachốp, Kohl, Merkel… đã cùng nhau gặp mặt tại đây để ôn lại những hồi ức sự kiện trọng đại ấy.

 

Trở lại „Cái đêm hôm ấy đêm gì“, gần cả cây số mà bị kẹt cứng mình chỉ sợ lạc mất con. Nắm chặt tay con mà nó thì bé quá, thấp quá chỉ sợ nó bị ngạt vì người đông quá, lèn nhau… Trời lạnh mà nóng hừng hực lên vì năng lượng của từng ấy con người cùng nhất thời tỏa ra, được giải phóng, cùng chung một mục đích thì sự cộng hưởng phải đến đâu. Sau hàng tiếng đồng hồ thì đến được cái cổng lọt vào bé tí, chỉ một bước nữa là sang bên kia. Vậy mà mình và con gái bị chặn lại vì là người nước ngoài, không có hộ chiếu hay chứng minh thư Đức. Thế là hai mẹ con lại ngược dòng, cũng khó khăn như thế để về lại khu tập thể ở tận gần ngoại ô Berlin mà „xa lắm tận phương Đông“ cơ. Ngày mai lại đi làm „như chưa hề có cuộc chia ly“. Bởi ngày ấy việc chạy sang TB vẫn là một điều cấm kỵ đối với quy định của ĐSQ.

 

Berlin, d 18.1.1990 hai mẹ con

 

Những ngày sau đấy là những ngày quyết định „Đi hay ở“ luôn đặt lên để cân nhắc đến đau cả đầu cho biết bao người Việt HTLĐ bên này. Bởi hai, ba năm nữa hết hợp đồng lao động là về nước. Giỏi lắm là vài ba cái xe máy, dăm bảy ngàn Mark Đông Đức mang về. Còn đây là thế giới tư bản đầy hấp dẫn mà sau công cuộc thống nhất Việt Nam, người Bắc đã được tận mắt chứng kiến sự „phồn vinh giả tạo“ ấy và người Nam thì nuối tiếc „nọc độc của chủ nghĩa TB“. Đây chính là thời gian người Việt trèo tường, vượt rừng, chui vào xe ôtô của những người bạn Đức tốt bụng… bằng nhiều phương tiện, phương cách khác nhau để sang Tây Đức hay Tây Berlin tị nạn. Trong đội kẻ đi người ở, không ai biết mình ngày mai thế nào, có còn gặp nhau không bởi thời điểm này là „Tráng sĩ hề một đi không trở lại“. Không ai nói với ai những dự định của mình nếu không rất thân thiết, tin cậy.

 

Các khu tập thể tan hoang. Những hàng họ mà công nhân tích cóp rất vất vả khó khăn để đóng hòm gửi về (trong thời gian lao động năm năm được về phép một lần với một hòm, về hẳn được đóng hàng một hòm nữa.) bỗng chốc vứt đầy cầu thang: đường, xà phòng, bát điã cốc chén… lổng chổng khắp nơi. Cả một thời gian dài mình không cần mua xà phòng và mua đường để xài vì nhiều quá. Nghĩ lại thương anh em trong đội khốn khổ khốn nạn vì lùng sục hàng họ để gửi về sau những ngày làm việc vất vả. Tiếc mấy thì tiếc chứ những người ở lại dùng sao hết, nhặt chục bánh, chục bịch đường là hết dù biết là phí lắm. Thế rồi số phận những hàng họ ấy sau này thế nào mình cũng chẳng biết nữa. Vì thời gian sôi động ấy còn thời gian đâu mà nghĩ đến những việc tủn mủn đó.

 

Còn rất ít cán bộ đội và phiên dịch ở lại, dù có bổ sung ở những nơi khác đến, nhưng công việc mình ngập đầu ngập cổ, hàng ngày vẫn phải vào ca đi dịch, rồi lên hải quan làm việc thùng hòm cho những người ở lại theo tiêu chuẩn của họ khi về, rồi vẫn đón đội mới sang, bởi hiệp định đã ký giữa hai nhà nước vẫn phải thực hiện, dù sang là chỉ để mấy tháng sau nhà máy chính thức thải hồi cho họ nhận tiền đền bù về nước, rồi những việc bất trắc như trường hợp ốm đau thủ tục về nước, D. bị tai nạn ô tô, mất thủ tục ma chay trong đội, nhận xác, về nước… Rồi sau đó thì việc công nhân VN nằm trong đợt thải hồi đầu tiên của nhà máy về nước. Để lo cho một đội mà quân số lớn thứ nhì về công nhân VN trong ngành công nghiệp nhẹ của Berlin với hơn bốn trăm người từ việc nhận tiền, tiêu chuẩn về nước, mua vé máy bay… đến khi đưa tiễn anh em ra tận chân máy bay… quả là không ít công việc.

 

Trong khi đó vẫn „Đi hay ở?“

 

Cái thời điểm hai mẹ con không được qua cái cửa bé nhỏ ở chân cầu biên giới đó để sang Tây Berlin như bao người khác không hiểu sao lòng mình thấy lại nhẹ nhõm, nhẹ bấc đi như thể là có một niềm vui âm ỉ nào đó. „Thế là mình vẫn được nhìn thấy VN, vẫn được gặp bố, gặp anh, mình và con gái mình vẫn được gặp bố nó!“. Đêm ấy mình và con gái phải đi bộ rất lâu, hình như gần sáng mới về đến khu TT vì tàu bè nghẽn tắc cả. Con gái mình biết là không được kể cho ai về chuyến đi đêm ấy và nó đã không kể, thậm chí đến giờ này ít ai biết nó đã trải qua một đêm trọng đại như thế trong đời, một đêm mà sau này lịch sử không những Đức mà thế giới sẽ còn ghi nhớ và nhắc nhở mãi. Bơi nó biết, là người VN là phải biết cái gì, với ai thì được phép nói hoặc không được phép nói. Chế độ dạy cho ta điều đó. Ngay từ bé mình đã được dạy điều đó, không ai được phép biết mình có một bác ruột ở trong Nam mà nhà mình vẫn nhận thư từ, ảnh, tin từ Paris, nhất là thái độ chính trị không rõ ràng?! Bên nội, chỉ có bố và chú mình ở ngoài Bắc nhưng không trong diện tập kết, cả nhà nội còn trong Nam (ai cũng biết) nhưng không có quan hệ. Tập kết ngày ấy như một cái mác định hình cho sự trung thành và đáng tin cậy, có nhiều quyền lợi hơn, anh em nhà mình vì vậy không được những đặc quyền ấy, được đi học nước ngoài chỉ do thực lực của bản thân mỗi người mà thôi.

 

Sau đó còn vài lần mình „đi“ nữa, cùng với bạn bè nhưng đều không được. Có lẽ tại bản thân mình đâu đó sâu xa trong thâm tâm là không muốn nên chả lần nào mình buồn bã cả hay hậm hực gì vì sao thiên hạ đi được mà mình không đi được. Nghe thiên hạ kể về những điều mắt thấy tai nghe rồi được cho cam, cho chuối, một biểu tượng xa xỉ của thời Đông Đức, mỗi người được nhận một trăm DMark như là sự chào đón nho nhỏ… của thế giớ tự do, mình cũng không hào hứng gì. Mình vẫn đi làm, vẫn nhiều việc bởi công việc thì rất nhiều mà người làm thì ít đi. Bạn bè rủ tối nay đi đi, đi cho biết rồi lại về chẳng hạn. Những lần ấy là mình toàn để con gái ở nhà, nhờ các cô trông vì mình sẽ về, chỉ đi chơi thôi. Mình không thể không được gặp lại bố mình được, không thể không về Việt Nam được. Bây giờ một phần tư thế kỷ đã trôi qua, hoàn cảnh đã khác nhiều, mình cũng khác đi nhiều nên có thể mình sẽ nghĩ khác đi nếu như trở lại thời điểm đó, nhưng khi ấy thì không. Mà làm gì còn có nếu và giá như nữa…

 

Nhưng có lẽ tất cả những điều ấy là tác động rất nhiều của một người bạn mình, một bác sỹ phụ khoa Đức. Mình và ông đã nhiều lần trò chuyện về tình hình Đông Âu, về sự thống nhất của nước Đức. Có thể hay không có thể? Và nếu có thể thì bao lâu nữa? Ngày ấy khi tất cả còn vô định thì ông đã khẳng định một cách chắc chắn khi bàn về những vấn đề Đông Âu với mình rằng „Nước Đức sẽ thống nhất và muộn nhất là hai năm nữa, thậm chí có thể sớm hơn nhiều“. Mình tin ông và có lẽ bởi vậy, mọi thứ đều chần chừ. Và quả thật. Lịch sử chứng minh điều đó.

 

Ngày ấy, nếu ai đã trải qua mới hiểu mọi sự nó cứ rối tung lên, cứ bùng nhùng, nhộn nhạo, cứ phấp phỏng, cứ mông lung, không có gì là rõ ràng được cả… Cho nên bây giờ mà mình nghe ai thánh tướng nói tôi tính thế này, tôi nghĩ thế kia lúc ấy là mình buồn cười lắm, bởi họ quên nhanh quá bởi lúc ấy ai cũng ngu ngơ và hầu như không hiểu gì về thời cuộc xoay vần. Họ tự khoác cho mình những  điều tưởng tượng sau những thành công nếu có mà phải nói do thời cuộc đưa đẩy khá nhiều, tất nhiên mình không phủ nhận tài năng của rất nhiều người nhưng mình không thích những người không tôn trọng tính khách quan của hoàn cảnh.

 

Mình là người cả đời lưỡng lự chứ nếu không mình đã cùng con gái với bạn mình qua đường Hung từ những ngày đầu năm tám chín. Gã rủ, mình không đi, thế là gã qua Hung, qua Áo để sang Hà Lan. Hungary là nước đầu tiên bằng những quyết định của những người lãnh đạo nhà nước bấy giờ đã mở cửa biên giới Áo – Hung cho hàng ngàn người tị nạn Đông Đức qua được thế giới tự do bằng con đường đó.  Mình đã gửi gã cho em mình đang là sinh viên ở Budapest. Gã sang thì đến nơi, trú nhờ tập thể em một hai hôm trước khi tìm đường ra biên giới. Và gã bạn mình chính là một trong những công dân Đông Đức thành công qua con đường biên giới Hung mở cửa sang Áo từ những ngày mùa xuân năm 89 ấy. Tình yêu của gã không đủ để mình mạo hiểm cuộc sống của hai mẹ con và nhất là khi nghĩ đến một viễn cảnh „Biết bao giờ trở về Việt Nam…?“ bài hát mà lần nào nghe đến mình cũng chảy nước mắt. Không được trở về Việt Nam, gặp bố, gặp anh… không bao giờ mình nghĩ đến. Bức tường Berlin đổ đã chia cắt nhiều mối tình của kẻ ở người đi, đẩy vào vòng tay nhau những cuộc tình oan trái và tái hợp bao mối duyên dang dở.

 

Tuy thế, sau đó cũng có lần vượt tường thành công. Rất vô tình thôi, hôm đấy, bố con gái mình đã từ Tiệp sang, hai đứa quyết định đi cùng với một vài người bạn. Chẳng hiểu sao lần ấy lại được. Nằm sấp trên mặt tường thành ngay bên Cổng thành Brandenburg do mọi người đội cồng kênh lên vì mình quá thấp, ngửi mùi khai khai của đất, của nước tiểu chắc do phấn khích quá của nhiều người, của mùi bia, mùi Champagne… trong tiếng tung hô vang trời đất của hàng vạn con người… cảm xúc đó cũng là duy nhất trong đời, chắc chẳng bao giờ quên. Bằng chứng là hai lăm năm sau mình vẫn ngửi thấy mùi khai ấy quanh đây, nếu nghĩ đến tường thành hoặc mỗi lần đi qua cổng thành Brandenburg. Và mình cũng không quên là khi tụt xuống phía bên kia là mình tụt vào đầu vào cổ một cậu Việt Nam của nhạc viện Hà Nội đi thi Concurt Arcoocdeon. Cậu ấy được cử đi thi nhưng do trật chìa kế hoạch sao đó mà không đi thi kịp, hay là thiếu áo quần biểu diễn hay không mua nổi vé tàu sao đó nên lỡ vụ thi thố thì lại đúng vào lúc mở cổng thành nên cậu ấy sang tị nạn luôn nhưng lòng vẫn canh cánh sợ bố mẹ ở nhà phải vạ vì cái đàn ấy hai cây (không nhớ rõ) vàng, sợ cha mẹ không trả nổi nhà trường. Mà ngày ấy số tiền ấy to lắm, không tưởng đối với một gia đình cán bộ công nhân viên chức nhà nước bình thường. Cậu ấy mừng quá, vì thấy bọn mình sang nhưng rồi lại buồn quá vì mình bảo anh chị không sang tị nạn đâu, sang xem thôi em ạ, anh chị còn cháu để ở nhà.

 

Lần đầu tiên thấy tận mắt, sờ tận tay thế giới tư bản. Cái gì cũng lấp loáng chói ngời. Vì chưa biết đi đâu nên tất cả rồi cũng đều gặp nhau ở khu vực trung tâm Tây Berlin. Lần đầu tiên biết Sexshop, lạc vào mà không biết, hoảng hồn khi nhìn kỹ các thứ và tay nắm phải cái Linga rõ to làm mẫu trong cửa hàng. Rồi đi sang trung tâm tị nạn, vì là cấp tập, lượng người tị nạn tứ xứ đổ về trong một thời gian quá gấp nên nhà vệ sinh ngập ngụa, tràn ra cả hành lang to rộng, bẩn kinh khủng. Chỉ vì vậy mà mình dứt điểm hoàn toàn sự phân vân „Đi hay ở“ một cách không nuối tiếc. Ở đời nhiều khi những khúc ngoặt quan trọng chỉ là do những tác động rất vô tình, ngẫu nhiên và không sinh tử gì như vấn đề cái toalét này hôm ấy. Giả sử hôm ấy mà toalet sạch sẽ có khi đã không có một VINAPHUNU, một bà Loos… như bây giờ. Nhỉ? Chẳng biết được. Cuộc đời có vô vàn ngã rẽ mà số phận đưa đẩy. Ít ai biết trước. Bởi vậy thắng không kiêu mà bại không nản là vậy. Mình vẫn tự răn mình như vậy và sống như vậy.

 

Rồi hôm nay đây mình ngồi tự xem lại cuốn phim trong lòng mình. Một mình gậm nhấm lại quá khứ. Biết bao đổi thay, vật đổi sao dời. Quả là Thương hải tang điền. Biển xanh hoá nương dâu lúc nào… Và mình lại quyết định ra đường hòa vào dòng người kia để tìm lại những cảm xúc ngày đó.

 

Nô nức, chen chúc, hồ hởi, chật như nêm cối, tàu xe không có chỗ len chân… hàng trăm ngàn người đổ về công viên Bức tường, gần quần thể Bảo tàng cùng tên để cùng nhau ngắm những trái bóng sẽ được thả lên trời với bao nguyện ước hòa bình cho nhân loại, không còn ly biệt, không còn chia cắt. Từ nhiều ngày qua, Berlin đã tổ chức cho ngày này với bao hồi hộp. Tám ngàn trái bóng cho 15 km trong 150 km đường biên giới xưa chia cắt Berlin được thắp sáng bằng những ngọn đèn bên trong. Mỗi trái bóng là một nhân vật hay một tổ chức đỡ đầu và đúng 7 giờ tối sẽ được thả lên bầu trời đêm Berlin. Lung linh huyền ảo Berlin trong ánh đèn với con đường ánh sáng dài 15 km đó quả là một kỳ quan, hấp dẫn không chỉ khách du lịch đến từ mọi miền nước Đức, từ nhiều nơi trên thế giới mà từ chính những người dân Berlin. Chen chúc ồn ào trong tiếng cười, tiếng champagne nổ lốp bốp, tiếng chúc tụng nhau bằng đủ thứ tiếng Đức, Nga, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Nhật, Trung Quốc, Hà Lan… Và còn nhiều thứ tiếng lạ với mình… trong một không khí lành lạnh, trái tim ấm nóng và đầu óc minh mẫn sáng suốt khi nhìn về quá khứ, mình càng hiểu rằng con người ta dù dân tộc nào, màu da nào, nói thứ tiếng nào thì tình cảm là một dù cho biểu hiện có thể khác nhau ít nhiều. Hòa bình, tình yêu và tự do là nguyện ước chung, là tiếng nói chung của nhân loại và chẳng có thế lực nào, có thể chế nào đi ngược lại mong muốn chung của con người mà có thể ngăn cản nổi điều đó. Có chăng chỉ là vấn đề của thời gian mà thôi.

 

Viết cho những hồi ức của riêng mình

Berlin tháng 11.2014

Advertisements