Latest Entries »

Dì Mau tôi

S7580001Tặng Piero của ngoại

 

 

Ngày tôi ra đời là một ngày tháng Năm nắng ấm, trời đẹp vô cùng. Những bãi cỏ xanh mướt, cây lá tốt tươi, hoa nở tưng bừng khắp nơi. Mẫu đơn hay tiếng Đức gọi là hoa hồng Giáng lâm vì nó chỉ nở vào dịp lễ này, từng đóa đủ màu rực rỡ trĩu trịt, đỗ quyên, tường vi, diên vĩ, hồng… muôn sắc khoe hương, chim hót líu lo trên cành và mặt trời chan hoà toả nắng, dù mới hôm trước thôi còn lạnh tê người, mưa gió ủ ê… „Thế là điềm tốt đấy Piero cuả dì ạ!“, sau này dì Mau tôi kể với tôi như vậy.

 

Khi tôi mở mắt chào đời, tôi nhìn thấy ngay khuôn mặt rạng rỡ nhưng vẫn còn đầy lo lắng cuả bố tôi, khuôn mặt yêu thương nhưng vẫn còn mệt mỏi của mẹ tôi, khuôn mặt đáng yêu của cô mụ và những đôi mắt (có cái sau kính, có cái không sau kính) của ê kíp bác sỹ, y tá… vì họ đều phải đeo khẩu trang xanh lè, áo quần cũng xanh lè, kín mít (chỉ chừa mỗi đôi mắt thôi), tay ai cũng đeo găng, miệng đeo khẩu trang… để còn thực hiện ca mổ sao cho hoàn hảo nhất. Ngay sau đấy là ngoại tôi vào sau cả tiếng đồng hồ ngồi niệm Phật bên ngoài để cầu cho mẹ tròn con vuông. Tôi được đặt lên ngực mẹ để cảm nhận ngay được mối quan hệ mẫu tử thiêng liêng, rồi mẹ bế, bố bế và bà bế. Tôi mở to mắt ngắm nghía những người thân yêu nhất cuả cuộc đời tôi để ghi nhận khoảnh khắc đầy xúc động này.

 

Khung cảnh cũng như những con người vừa như quen, vừa như lạ đối với tôi. Chúng ta đã gắn bó hay đã gặp nhau từ kiếp nào nhỉ? Ở những kiếp ấy ta là ai? Và ai đã từng là những người ta yêu thương, nhưng chẳng trọn kiếp và lại hẹn nhau kiếp này?… Bởi vậy đôi mắt của tôi trông rất già dặn và luôn mở to vì tôi còn bận tư duy, suy nghĩ mà lại. Tất cả mọi người có mặt đều lấy làm lạ về điều này, tức là về đôi mắt „hỏi han“ cuả tôi ấy.

 

Tôi ngoan, thỉnh thoảng chỉ nức nở tí ti vì luôn có những giấc mơ làm tôi nhớ lại những điều phiền lòng xa xưa. Rồi lâu dần tôi quên dần và quen dần với cuộc sống mới có bố tôi, mẹ tôi, bà ngoại tôi và dì Mau tôi, những người thân yêu nhất cuả tôi trong cuộc đời này.

 

Ông bà nội và các chú tôi ở tận TBN, tôi đã từng nhiều lần được về thăm. Cả cụ nữa, tức là ông ngoại cuả bố tôi vẫn còn mạnh khoẻ dù cụ khi ấy đã gần chín chục tuổi. Cả đại gia đình ở TBN đều rất vui mừng vì sự ra đời cuả tôi. Bà nội tôi và chú tôi sang Đức thăm tôi khi tôi đã 3-4 tháng tuổi. Việc đi lại chẳng phải dễ dàng nhất là với những người ít chịu đi lại như bà nội tôi và các chú tôi (chả bù cho bố mẹ tôi và bà ngoại tôi). Nhưng bà nội sang và ở lại với tôi khá lâu. Bà là người rất đáng yêu, hiền lành, bà còn yêu mẹ tôi hơn cả yêu bố tôi ấy chứ vì bà bảo bố không chu đáo được bằng mẹ (thì đã đành) dù là ngày nào bố cũng gọi điện thoại đường dài về nói chuyện với bà và các chú, lo lắng cho các chú từ việc ăn học, việc làm… và nhất là chuyện bà nội bị bệnh nặng. Tôi đã cùng bố mẹ sang thăm bà rất nhiều lần, hầu như năm nào cũng vài lần mà cũng là du lịch luôn. Tôi rất thích sang TBN cũng như Việt Nam, vì đó rất đẹp và còn là quê hương cuả bố mẹ tôi và ở đó các cụ, các ông bà đều rất yêu tôi.

 

Bà ngoại và bà nội tôi có nhiều điểm giống nhau, đều là người của thời hippie, đều ham mê nghệ thuật và đều „tay chơi“ nhưng bây giờ có tuổi thì không thể nào nhận ra được tuổi trẻ của họ nếu không xem lại những tấm ảnh ngày xưa. Các bà có vẻ hơi phiền lòng về điều này dù đều biết rằng tuổi trẻ có ai lấy lại được bao giờ? Nhưng mà là thỉnh thoảng và vậy vậy thôi chứ cả ngoại tôi và nội tôi đều rất yêu đời và lạc quan.

 

Bà ngoại tôi là một phụ nữ rất đặc biệt. Ngoại tôi không giống như những người phụ nữ ở tuổi cuả bà là chỉ lo con con cháu cháu, gặp nhau đâu là than già, than mệt… Bà tôi vui tươi và tính tình trẻ trung, cởi mở, phóng khoáng. Do nghề nghiệp và bà tính tình đôn hậu, dễ gần nên bà rất dễ tiếp cận người khác và chiếm trọn lòng tin cuả họ rất nhanh chóng. Nhiều bệnh nhưng không bao giờ thấy bà than thở và bà luôn bảo bà thấy bà rất trẻ. Không có bệnh thì bà chỉ thấy mình như ngày mới sang Đức, nghĩa là xêm xêm như mẹ tôi bây giờ. Ấy là bà cảm thấy thế, tâm hồn bà thế chứ hình thức thì vẫn là một bà lão nhưng là một bà lão à la mode và vui tươi. Giờ đã về hưu rồi mà vẫn bà hoạt động năng nổ, suốt ngày trên đường khi thì với bà này khi thì với bà khác. Tất nhiên bây giờ bà không thể làm việc như trước, như ngày bà còn trẻ được (mà thật ra là thời điểm ấy hoàn cảnh ấy nên phải vậy đó thôi). Nhìn lại khối lượng công việc cuả bà những năm đó, nếu ai không cùng bà trải thời gian ấy chắc khó lòng mà tin nổi. Bà đi lại, dịch chuyển kinh khủng (ở nhà bà lúc nào cũng có một va ly mở sẵn đầy đủ tư trang và bà lúc nào cũng sẵn sàng tâm thế cho một chuyến đi) y như việc bà đọc vậy. Bà thích nhất là sáng dậy ra quán uống cà phê và nhâm nhi cả ngày ngồi đó vừa nghe nhạc vừa viết lách. Về nhà là ngoại đọc suốt ngày, đêm. Bà đọc kinh khủng và bà nhớ cũng kinh khủng. Không lúc nào tôi thấy bà rời cuốn sách trên tay. Bây giờ mới học lớp Sáu mà tôi đã đọc nhiều như vậy chính là do bà truyền cho tôi tình yêu ấy. Ai ở gần bà đều cảm thấy sức cuốn hút cuả bà khi nói chuyện.

 

Bà yêu tôi và chăm sóc lo lắng cho tôi nhiều như cho mẹ tôi ngày xưa nhưng bà không phải là người phụ nữ thuần tuý dù bà đan lát thêu thuà nấu nước rất khéo, ít ai bì kịp. Hầu như các cô chú ở đây ngày bé bao giờ cũng được bà đan hay thêu móc tặng, khi thì áo, quần, khi thì khăn mũ, găng, vớ… Bà nấu nướng ngon nên bà rất thích nấu nướng mời các ông bà ăn uống những đặc sản Việt Nam. Mẹ tôi nấu ăn và bánh trái cũng cực khéo vì mẹ ngày bé được bà dạy bảo và truyền cho tình yêu với các môn nữ công gia chánh. Bà luôn dặn mẹ là phụ nữ luôn phải đảm đang khéo léo chồng con cơm dẻo canh ngọt, điều này rất cần thiết cho một gia đình chứ không chỉ công danh sự nghiệp hay những ham thích cá nhân đâu. Ở bà người ta luôn thấy những thái cực tưởng như rất mâu thuẫn như việc bà đặc biệt yêu thơ Đường và thích nghe nhạc jazz chẳng hạn. Hai ý thích này ít người có thể kết hợp được dù trong ý nghĩ nhỉ.

 

Đại gia đình bà ngoại tôi đông lắm. Ở Đức này có gia đình ông bác tôi tên Hồ là anh trai bà tôi cùng hai dì tôi là con gái của hai ông bà. Hai dì tôi đẹp lắm và rất giỏi, cũng như mẹ tôi nhưng mỗi người có lãnh vực và đam mê riêng. Có gia đình ông Tùng (là con cậu ruột ngoại tôi) bà Quyên nữa. Hai cậu của ông đều còn bé cả, chỉ hơn tôi vài tuổi thôi. Cả nhà thường bế tôi lên lòng và nựng nịu (như nựng dì Mau tôi) “Na, mein Pierochen“ tức là Piero bé bỏng cuả ông, bà, cậu, dì tùy theo lúc tôi được ai bế. Vì tôi là cháu đầu tiên cuả gia đình nên rất được yêu quý. Thì ở đời thường cái gì đầu tiên mà chả được quan tâm nhiều hơn?

 

Còn ở Tiệp, ở Hung, ở Việt Nam (Sài Gòn cũng như Hà Nội) thì các em họ của bà ngoại tôi rất nhiều. Những cô cậu mà mẹ tôi gọi đó là tôi gọi bằng ông bà. Ngày tôi ra đời, mẹ tôi báo tin mừng khắp nơi và các ông trẻ bà trẻ đều „sốc“ vì không nghĩ mình được lên chức „oai“ như vậy. Còn ông chú và các ông cậu, bà dì cuả mẹ tôi thì sau một đêm bỗng đồng loạt được lên „Cụ“ hết. Thấy bảo mọi người vui mừng lắm nhưng hoảng hồn cả. Các cụ ngoại tức là bố mẹ của bà mất đã lâu nên ông chú, ông cậu và các bà cô cuả mẹ tôi đều thương yêu hai anh em bà tôi như khi các cụ tôi còn sống và bà tôi cũng thương yêu các cụ như cha mẹ còn sống vậy. Vài năm, ngoại tôi lại đón các cụ sang Đức chơi một lần và đi du lịch, khi thì ông chú, khi thì ông cậu…cuả mẹ tôi. Bà tôi luôn nói „Ước gì các cụ cuả Piero còn sống để bây giờ biết mặt cháu..“ Bà tôi vô cùng yêu thương và luôn tưởng nhớ các cụ cha mẹ đã mất cuả mình. Nhà có bất cứ sự kiện gì bà ngoại tôi đều không chỉ thắp hương cầu Phật phù hộ mà còn kể với các cụ rất nhiều chuyện mỗi khi đứng trước bàn thờ.

 

Mà chả cứ gì các cụ hay các ông bà trẻ cuả tôi đâu, những ngày đầu bố mẹ tôi và bà ngoại tôi còn lúng túng mãi trong xưng hô ấy chứ trước sự có mặt cuả tôi trong cuộc đời này, dù mọi người đều chờ đón tôi từ đã lâu. Mẹ tôi ôm tôi âu yếm mà cứ như tôi là dì Mau ấy chứ.

 

Thủ tục chờ đợi mãi rồi bố mẹ cũng có lịch cưới. Mẹ tôi khi ấy đã có bầu tôi đã lớn, chỉ một tháng nữa thôi là tôi ra đời rồi. Bố mẹ tôi có rất nhiều bạn bè tốt, ở đây cũng như ở TBN.Ngày cưới bố mẹ tôi, các cô chú ấy dù ở xa, tận Berlin nhưng ai cũng sắp xếp công việc cuả mình để đi đến dự, tận München. Bố mẹ tôi mới dọn về München ở không lâu nên không nhiều người quen lắm, trừ cô Zsuzsa chú Marco thôi, còn thì ở Berlin cả. Thế nên các cô chú thân thiết như cô Minhớn (theo họ hàng là tôi còn phải gọi Fabian và Minhớn bằng ông bà nữa cơ), cô chú Nina và Ringo, cô Trang, cô Biggi, cô Khuyên, cô Anny đã đi tàu đêm hoặc bay từ tinh mơ để đến trước Toà Thị chính đúng 10 phút trước giờ lễ cưới cuả bố mẹ tôi. Mẹ rất xinh trong bộ đầm trắng ren giản dị, bố trông trịnh trọng và hơi lo lắng một tí. Các cô lộng lẫy cả một góc phố vì cô nào cũng xinh lắm và vui mừng rạng rỡ vì hạnh phúc cuả bố mẹ tôi. Thật là một sự ngạc nhiên đáng yêu biết bao cuả các cô chú. Bố mẹ tôi và ông, bà ngoại tôi cảm động lắm vì các cô chú phải bố trí việc nhà, xin nghỉ việc, gửi con bé, rồi bay đêm, dậy sớm… Đâu có đơn giản. Đó là còn chưa kể đến chuyện đi lại tốn kém lắm chứ bộ.

 

Một trong những hạnh phúc ở đời là khi ta có những người bạn tốt để chia sẻ mọi nỗi niềm, khổ đau cũng như hạnh phúc. Mà theo như ngoại tôi thường nói thì chung vui hạnh phúc và may mắn cuả người khác là một điều cực khó, khó hơn nhiều so với việc đồng cảm với những sự buồn cuả thiên hạ vì điều đó nằm trong thuộc tính cuả con người. Nhưng bố mẹ tôi đều có những người bạn cực kỳ chân tình và đáng yêu.

 

Còn bạn bè của ông bà ngoại tôi rất nhiều, ai cũng náo nức chờ đón tôi ra đời. Các cô chú đều „hí hửng“ vì được lên chức hết vì hầu hết các cô chú ít tuổi hơn ông bà ngoại tôi cả nên con cái các cô chú chưa lập gia đình hoặc có rồi thì chưa có cháu (trừ bà Như Hà là bà nội của anh Jimmy rất đáng yêu thôi hay bà Vinh cũng có cháu nội đã ba, bốn năm rồi). Các ông bà thăm hỏi, điện đóm suốt khi nghe tin mẹ tôi có bầu tôi, rồi đi sanh tôi (bà Tố Vân về phép còn thăm hỏi „trên từng cây số“ dù rất mải chơi)… Bà Hà Voigt, bà Thuỷ ông Vịnh, bà Hà ông Tuấn, bà Thủy ông Bảo, bà Dung ông Hùng ở mãi tận Bochum, bà Hà ông Steffen… là những người đã cùng mẹ tôi từ những ngày mẹ tôi còn bé, theo dõi sự trưởng thành cuả mẹ tôi, nên rất quan tâm lo lắng. Bà Thùy Vân đòi gửi kẹo cu đơ, bà Diệu Oanh đòi gửi bánh khúc, bánh cuốn… là những thứ mẹ tôi rất thích nhưng bà ngoại tôi bảo xách nặng lắm và cuối cùng là bà xách quả đu đủ to đùng cuả bà Hoàn và cậu Kiệt, cậu Đức thôi.

 

Còn ở Việt Nam bà ngoại tôi có những người bạn chí cốt chơi thân thiết với nhau hàng chục năm trời mà coi con cái nhau như trong gia đình, lo lắng cho nhau từng việc nhỏ như bà Diệu Hương có dì Diệu Linh, ông Dzũng là người bà rất yêu mến và đã chỉ bảo cho mẹ ngày bé biết bao nhiêu kiến thức ngày ông còn là sinh viên ở đây, đại gia đình bà Uyên ông Thìn, bà Thuý ông Chương cũng mới có cháu ngoại Panda yêu lắm con cuả dì Trâm… ở Hà Nội. Cứ chục ngày, ông bà lại gọi điện sang, cụ Bính nghe tin tôi ra đời khoẻ mạnh còn rơm rớm nước mắt mừng (nhưng ngoại tôi và các bà – láo toét hay trêu cụ ỷ là được cụ yêu – thì đồ rằng là cụ thương nhớ cụ Đông thì đúng hơn. Hai cụ gần hai chục năm trước có sang thăm ông bà ngoại tôi ở Berlin ngày dì Bì tôi còn sống và cách đây hai năm, muà Giáng sinh, cụ Bính sang thăm bà tôi lần nữa nhưng không còn cụ Đông vì cụ mất đã lâu)… Ở Sài Gòn thì có bà Dung với cậu Vuông, bà Ngọc có cậu Sơn Hà và cậu Chuột, bà Hoàn chăm sóc mẹ từ lúc mẹ còn bé tí lúc mới sang Đức, bà Thu Hương (có dì Chíp ở Anh cũng sắp cưới), cụ Liên ở tận Đông Hà, Quảng Trị, bà Đoan Thanh có bác Tí ở Sydney… Tóm lại là tôi và sự ra đời cuả tôi được nhiều người quan tâm lắm. Tôi đã được bố mẹ cho về Việt Nam thăm các cụ, các ông bà, cô cậu trong đại gia đình cuả mẹ tôi và bạn bè cuả ngoại. Ai cũng háo hức xem tôi thế nào „Tây nhiều hay ta nhiều?“. Ý là xem tôi giống bố hay giống mẹ đấy mà.

 

Khi tôi được bốn, năm tháng tuổi thì bố mẹ tôi mới có dịp đưa tôi lên Berlin chơi. Gặp ngoại thì thường xuyên vì bà vẫn về München thăm tôi nhưng lên Berlin thăm bà thì lần đầu. Cũng là lần đầu tôi gặp ông ngoại tôi cũng như các ông bà trên Berlin. Ai cũng đều háo hức muốn biết mặt tôi cả. Ông ngoại tôi rất yêu tôi, ông thăm hỏi tôi suốt. Hôm ấy bà ngoại tôi chiêu đãi tất cả một bữa liên hoan nướng thịt thật đông vui trên sân câu lạc bộ – nơi mà bao năm qua gắn bó với bà tôi cũng như mẹ tôi. Tôi được các ông bà bế ẵm yêu chiều lắm? Bữa hôm ấy cực kỳ thịnh soạn và vui vẻ..

 

Tất cả những điều này là sau này tôi được dì Mau tôi kể lại. Những khi ở nhà mà bố mẹ bận hay sau này, những buổi chiều đi học về hai dì cháu lại rủ rỉ chuyện trò đủ thứ chuyện trên đời. Cũng nhờ đó mà tôi biết được duyên kỳ ngộ cuả bố mẹ tôi đấy chứ.

 

Mẹ tôi và bà tôi có thể nói cuộc đời là những cuộc du lịch xa gần. Ngay từ khi còn rất bé, ở Việt Nam trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn nhưng bao giờ đi đâu bà tôi cũng cho mẹ tôi đi cùng, thậm chí khi mẹ vẫn còn phải bế chai ti, và có những chuyến tàu Nam Bắc đi cả tuần mà chỉ được ngồi chật chội chen chúc. Lưng mẹ tôi bị rệp đốt đến lột cả mảng da… nhưng vẫn đi. Nên cái việc ở Đức này thời Đông Đức thì dọc ngang trong nước là chuyện rất thường. Thống nhất rồi, có điều kiện bà cho mẹ đi khắp nơi trên thế giới, chừng có thể. Có thể nói những nơi bà và mẹ đặt chân qua không thể nào nhớ hết. Nơi nào cũng là những dấu ấn vô cùng sâu đậm về đất nước, con người, phong cảnh, văn hoá, lịch sử…

 

Và một ngày kia, nhân dịp sinh nhật lần thứ ba mươi cuả mẹ và cũng là để kỷ niệm công việc cuả bà hai mươi năm, mẹ và bà làm một chuyến du lịch dài sau những năm trường mệt mỏi nhất là chuyện kỷ niệm hai mươi năm công tác cuả bà và cũng có thể nói là cuả mẹ bởi để gây dựng nên một VINAPHUNU với tiếng tăm và một diện mạo văn hoá đặc biệt như vậy ở cái nước Đức này, không có mẹ và những đóng góp cuả mẹ, khó lòng mà đạt như vậy. Đó là tôi nghe bà ngoại cùng các bà nói vậy khi đánh giá vai trò cuả mẹ tôi trong những thành công của câu lạc bộ. Bà tôi là phiên dịch và phụ trách câu lạc bộ phụ nữ này. Mẹ tôi là trợ thủ đắc lực trong các hoạt động văn hoá vì mẹ tôi học nghề thiết kế ra và rất hăng hái việc xã hội từ bé, bên cạnh bà ngoại.

 

Năm ấy, từ Berlin  bà và mẹ tôi khởi hành đi Dublin thăm dì Tố Lan làm việc ở Google, đi Belfast vì Boney M. với bài hát nổi tiếng thời trẻ cuả bà làm bà nói rằng bà phải một lần đến. Rồi chú Tuấn Anh và cô Hạnh đang mới sang nhiệm kỳ ở Washington nên hai mẹ con dứt khoát phải thăm DC như cô chú nói. Rồi dọc bờ Đông lên Toronto, Montreal, Ottawa, Quebec cuả Canada. Dọc bờ Tây hết LA, San Fransisco, San Diego, Las Vegas lại bay về DC. Ngoại tôi và mẹ thực ra định sang Cuba tiếp đó nhưng visa sao rắc rối quá thế là lại sang Mexico, dù vừa mới năm trước còn đi một loạt Miami ở Florida, Mexico, đảo Gran Cayman, Belize, Honduras. Thế là bà và mẹ quyết định lại sang Mexico và lần này thì ra đảo Mucheres ở ngoài Cancun.

 

Đảo nhỏ và đẹp vô cùng, còn rất hoang dã, rất hợp ý ngoại và mẹ. Khách sạn không phải mùa du lịch nên vắng khách. Cả khách sạn chỉ có bà tôi với mẹ tôi và sau đó một ngày sau bố tôi đến. Bố tôi là kỹ sư máy tính phần mềm (chứ không phải “phần sụn”, chả hiểu sao bà tôi và các bạn mình cứ cười khi giới thiệu về bố tôi vậy) từ TBN đến Mỹ ở và làm việc. Áp lực công việc quá đi nên bố tôi làm một chuyến nghỉ phép ở đây. Cũng trái mùa như bà và mẹ tôi hay đi cho ngoài chuyện giá cả đỡ đắt đỏ mà còn vắng vẻ, đỡ chen chúc ầm ĩ. Phong cảnh đẹp, hữu tình, chỉ có bố mẹ tôi là hai người trẻ. Bà tôi thì đọc sách và ngồi máy tính viết bài cả ngày nên cái gì phải đến thì đến thôi. Có lẽ bố mẹ tôi yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên. Bố tôi ít nói và tính nhút nhát. Không biết làm quen mẹ tôi thế nào nên khi thấy bà và mẹ loay hoay chụp ảnh cho nhau đã ra liều mạng làm quen bằng cách xung phong chụp ảnh hộ, rồi sau thì „Nice to meet you“… Rồi tình yêu cứ ngày càng nhớn và bố tôi quyết định trở về châu Âu, về Đức để được ở cùng mẹ tôi và gần bà nội hơn là ở Mỹ. Mẹ tôi là con gái một cuả bà tôi và mẹ tôi rất thương bà ngoại nên không muốn đi xa quá, sang nước ngoài chẳng hạn. Thế là bố mẹ quyết định về München, nơi tôi ra đời này để lập nghiệp vì hãng cuả bố rất lớn, trụ sở chính ở đó và người ta vẫn giữ nguyên công việc cho bố, chỉ chuyển từ Mỹ về Đức thôi. Và thế là gia đình nhỏ của bố mẹ tôi được thành lập và tôi ra đời từ duyên kỳ ngộ cuả bố mẹ và từ tình yêu thiết tha, sâu lắng, không ồn ào cuả bố mẹ tôi.

 

Bố tôi đẹp trai, hiền lành được các ông bà, các cụ đã gặp rất quý nhất là bà Thuý, bà Uyên, bà Ngọc, bà Dung và bà Hoàn ở VN đều khen ngợi và các bà thấy thế là “quá chuẩn” vì „Ty nhà mình yêu thế cơ mà“. Mẹ tôi trẻ hơn tuổi rất nhiều, bé nhỏ, xinh xắn, rất duyên dáng và tài hoa, khéo léo. Đó là cái duyên phận để bố mẹ tôi gặp nhau và tôi có mặt trên cuộc đời này.

 

 

 

 

Đấy cứ rủ rỉ rù rì như thế mà hai dì cháu tôi chuyện trò với nhau được biết bao điều. Rất nhiều người đọc đến đây chắc chẳng tin đâu vì họ nghĩ dì Mau tôi đâu biết nói nhưng những ai đã nhìn đôi mắt biết nói cuả dì, tiếp xúc với dì rồi thì mới hiểu được là dì kỳ lạ thế nào. Thực ra để cảm thông đâu có nhất thiết phải cùng một ngôn ngữ.  Đó là còn chưa kể có một điều mà con người khó  hiểu là “truyền âm nhập mật”. Khái niệm này những ai mê chưởng như cụ ngoại tôi hay ông bác tên Hồ cuả tôi và bà ngoại tôi là hiểu ngay. Hoặc những ai tìm hiểu về văn hoá Tây Tạng hay Phật giáo như ông và ông Vịnh thì khái niệm này là hoàn toàn không xa lạ.

 

Có biết bao chuyện chỉ có hai dì cháu biết. Giữa dì và tôi có một thoả thuận ngầm, không phải chuyện gì bố mẹ cũng được biết. Tỉ như lúc bé có lúc tôi bấu đuôi dì rồi đưa lên mồm cắn một cái rõ đau làm dì kêu thét lên, phải cả tuần sợ không đến gần tôi chẳng hạn. Hay dì trốn đi chơi xa làm bố sợ quá, tưởng mất, còn tôi thì khóc mếu quá chừng, hôm ấy mẹ không có nhà. Hay hai dì cháu cùng nhau du đẩy sao đó làm đổ cây hoa rồi có lần dì nhỡ tay cào tôi xước một vết nhưng khi về bố cũng không nói, tôi không nói còn dì thì coi như không biết, mẹ hỏi thế nào cũng lờ đi… Thế là xong chuyện. Những chuyện như thế giữa hai dì cháu nhiều vô chừng, không thể nào kể hết được. Kỷ niệm hai dì cháu cãi nhau cũng có vì trong mười mấy năm trời làm sao mà tránh khỏi va chạm, dù có yêu nhau lắm đi chăng nữa. Chuyện thường tình thôi, nhưng tựu trung lại thì vẫn là thời gian hạnh phúc cuả tôi và dì. Tôi đi đâu, dì theo đấy, như hình với bóng. Dì nằm cùng tôi từ khi tôi còn trong nôi, sau ra giường riêng cũng vậy. Bố mẹ tôi chuyển nhà mấy lần ở nhiều thành phố khác nhau nhưng bao giờ dì cũng được đi theo hay cùng ngoại đến chơi lâu với gia đình tôi.

 

Dì Mau tôi đẹp lắm. Tên dì cũng đẹp và cầu kỳ, vì bà tôi thích vậy. Nguyễn Thị Hoài Mau Maria Magdalena, nhưng tên gọi nhà là Maumau thôi cho dễ gọi và dì cũng thích vậy, thậm chí chỉ Mau thôi càng tiện lợi. Ai quan tâm thì bà mới kể tại sao dì lại có tên đó. Là tên họ cuả bà, thêm tên tây đó vì khi viết tắt Maumau sẽ là như MM là Marilyn Monroe hay BB là Brigitte Bardot… chẳng hạn, những cô đào điện ảnh nổi tiếng. Khi tôi lớn lên biết nghĩ thì dì đã lớn tuổi. Tuy vậy mà mắt dì vẫn sáng, miệng dì sắc nét, chúm chím, giọng dì nhỏ nhẹ dịu dàng, lông dì vẫn rất mượt. Vì là tam thể nên trông lúc nào cũng thấy dì uyển chuyển nhẹ nhàng trong chiếc áo gấm ba màu mượt mà, trước ngực dì mặc yếm trắng và dì đi giày trắng, găng trắng. Dì đường bệ mà thanh thoát, dì thông minh và yêu kiều, dì nũng nịu mà lại (có phần) đanh đá, nhất là những khi dì bị bà mắng. Dì rất sợ mẹ, nhưng lại nhờn với ngoại và với bố vì dì biết bố thì hiền còn bà thì quá nuông chiều dì.

 

Tuổi thơ cuả dì khá là buồn bã (cho đến trước khi gặp mẹ và bà ngoại). Dì không nhớ được gì nhiều vì khi ấy dì bé quá. Chỉ nghe ngoại và mẹ kể lại là trong một chuyến về phép đi sang Thủ Đức viếng cụ Trà Anh là sếp cũ cuả bà ngoại những năm tháng bà chưa sang Đức thì gặp dì. Cuộc sống ở Việt Nam trong một Viện Nghiên cứu, dù là „thượng tầng kiến trúc“ thật nhưng sản phẩm trừu tượng chỉ dành cho ngàn năm sau nên vô vàn khó khăn giai đoạn đó (và đó cũng chính là lý do vì sao bà ngoại bỏ việc đi nước ngoài để đưa mẹ sang Berlin sống). Không có những người sếp mà thông cảm, hiểu và thương để ngoại còn trốn đi dạy thêm, làm thêm… thì làm sao nuôi nổi mẹ được. Nên bà rất biết ơn cụ Trà Anh và luôn coi như cô chú trong gia đình mà khi cụ mất, ngoại không về ngay được nên khi về nước là ngoại và mẹ đi viếng mộ cụ ngay.  Bà luôn nói với mẹ là phải biết ơn từ những sự giúp đỡ nhỏ nhất trong đời vì thực ra chẳng ai phải có nghĩa vụ hay trách nhiệm phải tốt với mình cả. Bởi vậy, một mảy may ân tình cũng phải ghi nhớ. Bà và mẹ cũng sống như vậy.

 

Ghé vào chân cầu Sài Gòn để mua hương hoa thì thấy dì buồn bã nằm nấp sau mấy quả cam trên cái mẹt ở gánh hàng. Thấy dì thương lắm. Khi ấy dì là một con bé èo uột, như một cái rẻ rách, mắt toét nhoèn, cô đơn, yếu đuối. Mẹ thấy vậy bèn hỏi bà bán hàng thì bà bảo không phải của bà, bị mẹ dì bỏ rồi lưu lạc đến nằm đấy vậy thôi. Và bà ấy đồng ý cho dì khi nghĩ thế này chắc dì sẽ sướng hơn (vì nhìn ngoại những người không biết đều tưởng ngoại giàu có lắm). Ngoại đưa bà ấy ít tiền rồi mang luôn đi. Mẹ ôm dì, bé chút xíu, lọt thỏm trong tay, phải lấy đại một cái dây buộc vào cổ vì chỉ sợ dì ngã hay chạy mất. Sợ hão huyền thế chứ dì bé lắm và yếu ớt lắm, biết đằng nào mà chạy. Sau đó dì cũng lên nghĩa trang thăm cụ Trà Anh rồi cùng về đi nhà hàng „Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng“. Chắc đó là chuyến đi xa đầy kỳ thú cuả dì lần đầu tiên trong đời. Dì háo hức lắm và cũng sợ hãi lắm.

 

Thế rồi bà ngoại về, nhưng dì ở lại Sài Gòn với mẹ và bà Dung (bà Thùy Vân ông Vũ đã từng thăm tôi ngày ấy, ở Sài Gòn đây chứ). Nhà bà Dung có bể bơi đã có lần dì bị ngã xuống bể bơi và bé tí mà tự bơi vào bờ. Có lần dì trèo lên tường ngã ra ngoài, bị nhà hàng xóm bắt mất. Mẹ tìm mãi, khóc lóc um sùm hỏi khắp nơi mà không thấy, gọi cả điện thoại sang Berlin kể với bà, thế là bà bảo dán giấy khắp hẻm để tìm và hứa thưởng tiền thì họ sẽ tìm hộ. Thế rồi vô tình do thằng trẻ con mới biết là chúng nó giữ dì lại, thấy dì đẹp quá nên muốn chiếm dì. Sang Berlin, dì bị một tai nạn khủng khiếp mà sau này dì kể lại mãi vẫn còn sợ. Đó là ở nhà bà ngoại phải chăng lưới ở ngoài cưả sổ nhìn ra đường vì sợ dì mải chơi bắt chim trên cây dẻ gai trước nhà chẳng hạn mà ngã xuống. Gần sáng một hôm khi dì mới sang vẫn còn bé, linh tính thế nào bà ngoại tỉnh dậy vì những tiếng khào khào, nghẹn tắc. Bật dậy mẹ thấy dì bé tí bị treo như treo cổ trong lưới, lơ lửng ngoài cửa đang tìm cách đu đẩy để bám chân được vào bậu cửa sổ cho đỡ kẹt cổ mà không được. Gỡ ra chậm vài dây, chắc dì bị chết rồi. Từ đó không bao giờ dì lớ xớ ra cưả sổ cả. Bị ám ảnh mãi. Thế mới hay những ám ảnh tuổi thơ thật khủng khiếp. Thấy bà và mẹ nói rằng trong những nghiên cứu về tội phạm học kết luận rằng những ám ảnh tuổi thơ ấy sẽ là những chấn thương tinh thần cả đời và hâu quả nhiều khi không lường được ấy chứ, ví dụ thì nhiều lắm không kể hêt được.

 

Việc đưa được dì sang Đức cũng là cả một „công trình“ như ngoại kể. Phức tạp lắm và tốn kém lắm. Riêng chuyện bà Ngọc và mẹ chở dì đi Đông đi Tây để lấy máu, tiêm chủng, bắn chíp điện tử như quy định quốc tế vào người… đã rất phiền phức rồi. Rồi chuyến đi sang đây, bay cả ngày, chờ đợi ở Seoul cả chục tiếng, đi tàu từ Frankfurt am Main về đến Berlin… Bà ra đón ở ga mà nhìn thấy mẹ tả tơi rã rượi vì mệt quá. Thương cả hai chị em, mẹ và dì Mau vô cùng. Mà dì bé thế mà dì ngoan lắm nhé, ko đi pipi suốt cả chặng đường dù mẹ bảo thế nào cũng không đi khi cho ra ngoài lúc chờ đợi ở các phi trường. Mãi đến Frankfurt thì không thể nhịn được , dì mới đi thôi.

 

Dì có bộ lông tam thể rất đẹp, lúc nào cũng mượt như nhung. Dì điệu lắm, liếm láp suốt ngày ấy. Hai bàn tay dì rất đẹp, đi găng trắng. Các ngón đỏ hồng trắng muốt, trừ ngón út bàn tay trái và ngón trỏ bàn tay phải thì đen như nhung thôi. Hai bàn tay dì khéo léo vô cùng, dì thường xuyên chụp bắt ruồi nhặng, rồi chăm chú mở bàn tay ra xem thế nào? Dì có một cái đuôi gọi là đuôi „chià khoá“ nên rất ngắn, quẹo ở đầu, đó là biểu hiện cuả sự thông minh và khôn ngoan tuyệt đỉnh cuả giống loài dì. Dì rất thích chụp ảnh với hoa, mỗi khi có một bình hoa mới là dì đều mon men đến để bà chụp cho dì rồi lên FB để được khen vì đẹp.Có ai khen là ngoại lại gọi dì đến đọc cho nghe, dì khoái lắm, mắt lim rim. Nhưng mà dì cũng ăn ảnh thật. Ngoại chụp cho dì rất nhiều ảnh đẹp. Nhưng đó là những chuyện từ khi dì còn trẻ cơ. Già rồi mấy ai còn thiết những chuyện phù phiếm ấy nữa cơ chứ.

 

Dì diện lắm nha, bà ngoại năm nào mùa đông đến cũng đan cho dì áo len để diện. Vàng, hồng, xanh là dì có cả. Vòng đeo cổ mẹ mua cho dì rất đẹp. có lấp lánh tên dì nưã cơ. Rồi mẹ lại còn mua và mang từ Sài Gòn sang cho dì váy hoa nưã. Rất nhã nhặn, trông dễ thương lắm nhưng tiếc là mẹ chọn size bị nhỏ mất một cỡ. Đi nước ngoài bao giờ mẹ cũng vào cửa hàng mua cho dì quà gì đó, nhỏ nhỏ thôi nhưng mà dì rất thích. Bà Ngọc sang chơi còn mang cho dì một con cá xanh đỏ để cào. Giáng sinh, Năm mới năm nào dì Mau tôi cũng có quà của bà Thùy Vân và dì Thùy Linh nhé (à rất hay là hai dì cháu, dì Thùy Linh với tôi có cùng sinh nhật).. Chưa bao giờ bà Thùy Vân quên cả, đó là còn chưa kể ít lâu bà lại mua cho dì Mau một bình cỏ mướt mát xanh ngọt ngào hay những viên bánh khô nhai cồm cộp nữa chứ. Cảm động lắm. Rồi bà Lê còn mua cho tôi con chuột đồ chơi… Hồi lâu mẹ còn thửa riêng cho dì một ngôi nhà hẳn hoi nhá, có ba tầng, vừa để dì sửa móng tay hàng ngày, vừa để dì trèo leo cho vui, để cuộc sống dì đỡ buồn, nhất là những khi dì ở nhà một mình. Tóm lại là về mặt tài sản dì có cũng khá khá đó. Toàn hàng sang ấy chứ lị.

 

À, dì rất giỏi nhé, dì đã từng bắt được hai con chuột khổng lồ to gần bằng dì đấy. Chả biết chúng ở đâu ra khi nhà cửa đóng kín mít mà bỗng một sáng ngủ dậy, bà đầu tóc quần áo chỉnh tề chuẩn bị đi làm, vừa thò tay xách túi thì hỡi ơi thấy một cái đuôi dài vắt vẻo như cái đũa ngay bên túi. Rú lên, nhìn kỹ ra thì một con chuột cống to đùng ngã vật chết tươi ở đó. Lần sau thì ngay đầu giường. Hoá ra là dì khoe và dì tặng bà đấy chứ vì dì yêu bà nhất mà.

 

 À, mẹ – dì cũng yêu nhất. Vì ngày dì còn bé mà mẹ đi học ở London khá lâu. Hôm mẹ về chơi, bà Thu Hà chở ngoại và dì ra phi trường đón mẹ mà dì thấy mẹ là vội lập tức nhảy từ bà sang đòi mẹ bế đấy. Mẹ đi đâu rất lâu, dì xa mẹ rất lâu nhưng mẹ về là dì xán lại ngay, nằm ngay với mẹ, hít hà mẹ. Dì nhớ mẹ lắm. Khi dì ở với bà là mẹ nhớ dì ghê lắm. Còn dì ở với mẹ là bà ngoại nhớ dì cũng ghê lắm. Hai người ngày ngày điện đóm cho nhau chỉ để hỏi dì hôm nay làm gì, phá phách gì không? Có chuyện gì mới với dì là người kia khoe ngay, nhắn tin nói chuyện không đủ mà còn phải gửi ảnh dì cho nhau nưã… dì đang ngủ, dì đang lăn kềnh, dì phơi nắng, dì ngắm hoa, dì trốn, dì trong nôi với tôi, dì hôn Piero…  Nghĩa là ai cũng tưởng có tôi thì mẹ sẽ bớt quan tâm đến dì ư? Hoàn toàn không phải vậy. Bố mẹ vẫn ngày ngày nấu ăn cho dì từng món khác nhau như từ bé đến giờ vẫn chăm sóc vuốt ve âu yếm dì như với tôi… Nhưng dì bảo với tôi rằng ở với bà, bà chiều dì hơn, ăn uống thoải mái hơn chứ mẹ nghiêm quá. Chuyện ăn ấy, vì mẹ cái gì cũng khoa học, ăn uống khoa học, khẩu phần khoa học… cái này độc không được, cái kia độc không được. Sốt ruột lắm.

 

Dì cũng có những cái tai quái riêng của dì đấy chứ. Ngày bé ở Việt Nam là dì ở với cậu Bì Hai thế mà dì toàn bắt nạt cậu. Dù cậu cũng vẫn trẻ con nhưng to hơn dì nhiều, thế mà dì rất hay trêu chọc cậu và bắt nạt cậu. Dì vì bé được vào nhà, còn cậu lớn xác hơn phải ở ngaòi để trông nhà nhưng rất muốn được vào nhà, ôm ấp yêu chiều thế là cứ dì trong nhà, cậu ở ngoài, cách nhau cái cửa kính ầm ĩ, cãi nhau. Khổ thân cậu Bì Hai tồ hơn, không biết làm sao cả để bớt uất, cứ chạy đi chạy lại ngoài của, bên trong thì dì cười khẩy. Hay hôm đến nhà bà Ngọc để ở vì mẹ đi đâu đó thì dì và cậu Chuột „phá tan“ cái nhà khi bà Ngọc và cậu Sơn Hà đi vắng. Bà Ngọc về nhà, nhìn quang cảnh gần ngất vì tưởng trong nhà mình có tuyết rơi. Cậu Chuột bé quá và không biết trèo nên đứng dưới cắn xé tan tành những cuộn giấy ăn, giấy vệ sinh cuả dì Mau chảnh chọe đứng trên bàn tung xuống.

 

Mỗi lần nhắc đến cậu Bì Hai, ngoại vẫn buồn và ân hận lắm. Khổ thân cậu. Bà và mẹ đã làm thủ tục như khám bệnh, gắn chíp, thử máu, hàng không thì bác Quang đã lo cuả Lufthansa vì theo quy định kích cỡ chó to thế nào thì lồng phải ra sao… Tốn kém vô cùng, nhưng bà và mẹ vẫn quyết mang cậu sang vì cậu ở nhà bị đánh đập tội quá. Hay nhất là ở Việt Nam, thường người ta đối với thú vật hoàn toàn vô cảm, đánh đập hành hạ như một hành động rất bình thường. Ví như một bạn chó hay mèo bị tự nhiên đi qua đá một cái vào bụng kêu đánh oẳng một cái vì đau quá hoặc vô cớ bị ném đá, đánh đập… là thường ngày diễn ra trước mắt. Chẳng ai quan tâm hay phẫn nộ gì. Vì sao mà con người ta hờ hững như vậy trước nỗi đau cuả một sinh vật cùng ta góp mặt trong sự sống này nhỉ. Bởi họ có một ngàn nỗi lo khác, bởi họ đã quen với bạo lực, thậm chí còn tìm thấy thú vui trong bạo lực, bởi họ không còn tình yêu nữa… Và bởi những con người ấy cư xử với chính đồng loại mình chắc cũng chẳng hơn gì.

 

Vì chưa lo xong thủ tục nên bà và mẹ thương cậu sợ bị đánh đập khủng khiếp như vậy đã gửi cậu đến nhà người quen mà mồm xoen xoét là yêu chó lắm… . Quyết định sai lầm này của ngoại đã làm ngoại ân hận khủng khiếp, ân hận mãi, day dứt mãi chuyện này. Trong những ngày còn ở lại Sài Gòn, hầu như ngày nào bà ngoại và mẹ cũng đến thăm cậu. Thấy cậu tỏ ra lo sợ cuống cuồng, bà và mẹ chỉ ngỡ là cậu sợ bị bỏ nên ra sức an ủi cậu, là bà sẽ về đón cậu, đừng sợ. Nhưng bà và mẹ làm sao biết được khi ấy cậu đã biết bộ mặt thật cuả cái gia đình đó, nhưng không tài nào nói được cho hiểu, nên cậu chỉ tỏ ra được như vậy. Bà ngoại gần ngã ngửa ra khi trước giờ bay đến thăm cậu thì được biết một tin sét đánh là nhà đó ăn thịt chó ngon lành dù „Chúng em yêu chó lắm chị ạ“. Khi đó đã muộn quá rồi. Một tháng sau nghe tin nhà đó thông báo từ Việt Nam  là cậu bị người ta ăn cắp, tìm mãi không được?!. Bà ngoại uất hận mình bị lừa, buồn thương mãi, ân hận mãi. Và đó là một trong những niềm đau day dứt của bà ngoại trong suốt cuộc đời còn lại này khi biết bà đã làm cậu Bì Hai thất vọng. Bà thương cậu quá và tự trách mình mãi „Sao mình không cố làm xong thủ tục? Sao mình không hiểu Bì hai nói gì?“ Bà luôn khóc nghẹn ngào mỗi khi nhớ đến cái chạy cuống cuồng, trốn ra ngoài Terrasse cuả cậu để báo mà ngoại và mẹ không hiểu. Khi hiểu được thì đã muộn mất rồi…

 

Trong cuộc đời này có biết bao sự việc, bao con người mà khi ta nhận chân ra bộ mặt thật thì hỡi ơi đã muộn. Thậm chí muộn cả một đời. Về sau dì bảo dì cũng ân hận mãi về những cư xử cuả dì với cậu Bì Hai, cho dù ngày ấy dì còn nhỏ và đó cũng là những chuyện tranh giành trẻ con mà thôi. Nên dì vẫn thường bảo tôi, hãy tốt với mọi người, mọi vật mỗi khi có thể vì ai mà biết được giây phút sau thế nào, đời mà. Kẻo rồi lại ân hận khôn nguôi như dì đây.

 

Dì không chỉ ở với nhà tôi ở München này mà còn ở với ngoại ở Berlin là chính. Nhưng vì ngoại hay đi thì là cứ phải đi gửi ở nhà bạn bè cuả bà. Trước dì hay đến bà Lê. Bà cũng yêu dì lắm nên khi dì phá phách cũng không mắng mỏ gì. Có lần thì sang ông Jia nhưng nhà ông ấy khiếp quá, dì ở với ông một tuần mà về nhà phải hai tuần sau mới hết mùi thuốc lá. Rồi sang nhà bà Swetlana là mẹ cuả dì Alla bạn thân cuả mẹ cũng hay ăn vụng, thế mà Swetlana yêu dì lắm nha. Khi đưa dì về nhà thì Swetlana xin là lần sau đi đâu thì nhớ mang dì đến, muốn gặp lại dì… Ai đã từng gặp dì đều rất yêu dì. Dì Mau yểu điệu và đáng yêu của tôi. Khi dì mắc lỗi, không ai giận dì được lâu cả vì dì đẹp quá, dì yêu quá, và dì chờ cho mọi người nguôi nguôi lại ra dụi dụi, cọ cọ vào chân bà hay bố mẹ hay tôi để tỏ ý xin lỗi. Thế thì ai mà giận dì cho được trước một người luôn luôn „ăn năn hối cải“ như thế dù chỉ vài tiếng sau lại có thể phạm chính lỗi ấy như thường.

 

Thỉnh thoảng, dì lại gây sự cố như ăn vụng khoai tây luộc còn nóng bỏng, ăn vụng nấm sống, Zucchini sống, cà chua sống… rồi mang đi giấu những thứ đó vào trong chăn bố mẹ cho giật mình chơi. Hoặc giả dì trốn đâu đó, biết mọi người gọi mình, tìm mình nhưng gì cứ lờ đi cho bố mẹ hay bà lo lắng cuống lên mới lù lù hiện ra. Bà ghét cái trò này lắm. Bố cũng nhiều trận bị dì doạ vậy đấy. Chỉ có mẹ là dì không dám gì thôi vì mẹ „đọc vị“ dì. Dù yêu thương dì nhiều lắm nhưng mẹ nghiêm vô cùng, cũng như với tôi vâỵ… Thực ra, tất cả những Scandal ấy là cách để dì nhắc nhở mọi người phải quan tâm đến dì hơn nữa, phải yêu dì hơn nữa thôi chứ nhiều khi lấy xong dì vứt chúng đi chứ có ăn uống gì những thứ ấy. Dì có đói khát gì đâu. Dì ăn uống rất sung sướng và điều độ. Sáng ra, dì điểm tâm bánh khô với sữa, rồi đi ngủ tiếp. Trong ngày dì còn vài bữa ăn nóng nữa, toàn thức ăn tự tay bà, mẹ hay bố nấu cho dì trong những cái nồi xinh xinh bà Hoabébỏng cho mẹ.

 

Dì từ bé đến lớn ngày nào cũng được uống sữa cả vì dì thích uống sữa. Dì có tật xấu là hay thích bú tí bà hay bố vì mẹ không cho. Bà hay bế ngửa dì lên, đầu dì rúc vào trong nách bà, môi chẹp chẹp, mắt lơ mơ, mặt đờ đẫn, hai tay đạp đạp (có lẽ vì bị bỏ rơi sớm quá, còn bé quá nên dì thèm). Áo bà ở nhà lúc nào cũng ướt đẫm chỗ ngực áo là vì vâỵ. Tuy vậy, dì rất ngượng khi có khách dù nhiều khi thèm lắm và bà cũng đồng ý cho dì rúc rích nhưng bao giờ dì cũng ngồi lại ngay ngắn, tề chỉnh… như làm gì có chuyện trẻ ranh vớ vẩn ấy. Trong lòng dì chỉ mong khách về nhanh để dì rúc bà tiếp thôi, có hôm tâm sự hai dì cháu, dì bảo tôi vậy.

 

Dì thích nhất là được ngủ trên ngực bà, hoặc trong chân mẹ, hay trên cổ bố cũng được (những sáng mà dì muốn gọi bà dậy cho ăn là dì còn nằm lên mặt bà để bà phải dậy hoặc ngồi nhìn chằm chằm vào mặt bà xem bà ngủ thật hay ngủ giả vờ, rồi dì ngoáy râu để bà ngứa ngáy mà phải dậy). Được áp mình tin cậy và đầy thương yêu lên những người thân yêu cuả mình là những giây phút hạnh phúc vô biên. Vị trí thích trong nhà là leo lên nóc tủ lạnh để ngắm bà hay mẹ nấu nướng, chuẩn bị bữas ăn. Sau khi tôi ra đời mà xuống mẹ chơi thì dì thích nhất là được nằm trong nôi với tôi, để „Hơi ấm cuả dì sưởi ấm cho Piero cuả dì“. Dì thường nói vậy với tôi.

 

Trước ngày tôi ra đời vài hôm, dì cùng bà ngoại đi tàu hỏa xuống để chờ đón tôi. Dì nhát thế mà hôm ấy dì vui lắm, bà đã nói với dì từ lâu về sự hiện diện cuả tôi trong gia đình. Trên tàu, bà bế dì ra khỏi lồng mấy lần để dì ngắm phong cảnh mùa xuân hoa lá khoe hương khoe sắc khắp nơi. Một màu xanh mơn mởn mỡ màng cuả cây lá đâm chồi nảy lộc, những cánh đồng hoa cải vàng tươi, hoa anh túc đỏ cam rực rỡ, những bông hoa có tên và không tên tím hồng đủ hình đủ dáng đủ màu… dọc đường đi. Thật là thanh bình êm ả.  Tàu qua hết ga nọ ga kia, đi lâu phết. Một chuyến đi kỳ thú. Dì cũng hay được đi lắm, dì xuống chơi với mẹ cũng vài lần rồi , nhưng ngày ấy chưa có tôi (ngày bé còn ở Việt nam dì còn được đi nghỉ mát Vũng Tàu cơ mà), tâm trạng dì khác lắm, thấy dì kể với tôi thế. Thật là yêu mẹ nhưng có tôi dì không chỉ yêu tôi ghê gớm, yêu bố tôi nhiều mà còn yêu mẹ tôi hơn nhiều nữa vì mẹ vất vả nuôi tôi lắm, dù tôi ngoan, hay ăn, chóng lớn không khóc nhè vớ vẩn như nhiều đứa trẻ khác. Nhưng nuôi một đứa trẻ con vất vả lắm chứ vì mẹ tôi không có anh chị em họ hàng hay ông bà như ở Việt Nam giúp đỡ.

 

Tôi ra đời chậm cả tuần nên trong những ngày đó dì chờ mong lắm, cứ ra ra vào vào cùng mẹ tôi. Bình thường dì thích rong chơi quanh nhà thế nhưng những ngày đó dì toàn ở trong nhà, xem và nhìn ngó mẹ tôi sắp xếp đồ đón tôi ra đời. Mẹ tôi giặt giũ, nấu ăn, đi chợ… cho đến tận khi đã vào bệnh viện sanh tôi. Trong khi chờ đợi, bác sỹ cho ra vài tiếng đồng hồ thư giãn thì tót đi chợ để mua đồ về nấu phở. Trong khi mẹ và tôi vẫn nằm trong bệnh viện, bố phải chạy đi chạy lại lo lắng cho hai mẹ con thì dì ở nhà một mình trông nhà, buồn lắm, ngóng hàng ngày vì bà đã về Berlin. Khi ấy bà vẫn làm việc và bà rất bận nhiều công chuyện khác nhau phải giải quyết và… bà lại sắp đi du lịch.

 

 

Khi bố mẹ bế tôi vào nhà, dì hớn hở chạy ra đón, dì mừng quá vì thấy mẹ đã về. Dù có biết nhưng dì vẫn ngạc nhiên trước thành viên mới. Tôi mở mắt và thấy dì hơi tránh tránh, sau dì rón rén lại gần tôi,ngửi ngửi, hít hít và chắc đang tự hỏi thằng cu Piero mà dì chờ đón sao bé tí thế này. Nhưng ngay sau đấy dì đã kết thân với tôi rất nhanh, dì trông tôi cho mẹ làm việc hay nấu ăn dì đó. Dì vào nôi tôi nằm cùng. Dì luôn bảo với tôi trên đời dì chưa bao giờ nhìn thấy một baby xinh như tôi. Mắt mở to, mũi cao, miệng với nét môi rõ ràng, rạng rỡ sáng suả, các cô mụ đỡ cũng nói vậy đấy chứ… thậm chí hình như còn lờ mờ thấy râu quai nón như bố tôi nữa thì phải. Dì bảo lớn lên thế nào tôi cũng rất đẹp, thông minh và có một tương lai rạng ngời.

 

 Chắc đến đây ai cũng thắc mắc tôi nói tiếng gì, đúng không?Tôi nói tiếng Tây Ban Nha  với bố tôi và ông bà nội tôi vì từ bé bố tôi chỉ nói với tôi bằng tiếng Tây Ban Nha. Tôi nói tiếng Việt với mẹ tôi và ngoại tôi vì từ bé mẹ tôi cũng chỉ nói tiếng Việt với tôi. Tôi nói tiếng Anh vì bố mẹ tôi nói tiếng Anh với nhau (mẹ thì biết tiếng Tây Ban Nha rất ít, đủ để chút chút v1ơi bà nội và các chú nhưng bố thì tuyệt nhiên không biết tiếng Việt), tôi phải hiểu chứ. Còn tiếng Đức thì tất nhiên rồi vì tôi sống ở đây và đi học ở đây mà.

 

Và bây giờ Piero bé bỏng cuả dì ngày nào đã vào Gymnasium rồi. Đúng như dì dự đoán và cả gia đình mong ước, việc học hành cuả tôi đơn giản dễ dàng và kết quả luôn tốt (chẳng có gì lạ khi họ biết các cụ tôi, ông bà ngoại, ông bà nội tôi hay cả đại gia đình hai bên cuả tôi, bố mẹ tôi). Nhưng ngoại tôi và dì tôi, bố mẹ tôi luôn nói với tôi rằng „Cuộc đời rất ngắn, ta phải sống làm sao cho có ý nghiã, hưởng thụ và cống hiến là phải  đồng đều như thế mới thật sống cho ra sống“.

 

Tôi đã cao gần 1,7m và rất giống bố, đôi tai đẹp thì giống mẹ, luân quách rõ ràng, sáng suả. Dì cứ bảo khuôn mặt ngũ quan đầy đặn, cân đối, phân minh sẽ có một tương lai tốt đẹp. Nhưng bà và mẹ còn nói thêm rằng „Tướng tùy tâm sinh, tâm đổi thì tướng đổi, tướng đổi thì số phận đổi“. Bởi vậy cái tâm quyết định rất nhiều sự thành bại cuả một đời người. Tôi và bố mẹ vẫn lên chùa mỗi khi về Berlin có đủ thời gian.

 

Tôi viết lại những kỷ niệm này như là một nén hương lòng để tưởng nhớ đến dì Mau tôi. Dì mới mất khi đã già lắm và đã bệnh tật nhiều. Tôi biết rồi đây kỷ niệm yêu thương về dì sẽ còn mãi trong tôi bởi dì gắn bó với cả tuổi thơ tôi. Bóng dáng dì còn khắp nơi, thỉnh thoảng trong góc nhà hay trên áo tôi vẫn còn vương lại lông cuả dì. Đi tắm tôi cũng thấy dì leo trên bệ cùng, đi đâu dì cũng lẽo đẽo theo sau… mãi sau này ốm quá mới thôi.

 

Bí mật cuối cùng chỉ có hai dì cháu tôi biết, đó là đố bạn biết dì Mau tôi là ai? Dì Mau tôi chính là dì Bì – Bibi Trần Lộng Ngọc – đấy. Dì Mau tôi với nguyện ước kiếp trước cuả mình được quay về sống với ngoại tôi, với chị tôi, được rúc vào lòng bà ngoại tôi ngủ mỗi đêm mà không bị ông ngoại phá đám. Dì giữ bí mật ấy trong lòng suốt cuộc đời mình và đã kể tôi nghe cách đây không lâu khi dì biết mình chẳng còn sống bao lâu nữa. Dì dặn là chỉ có hai dì cháu mình được biết thôi nhé vì dì nhớ ngoại và căn hộ nơi dì kiếp trước đã sống trong tình yêu thương cuả gia đình. Dì hiểu tình yêu cuả ngoại và nỗi nhớ nhung khôn nguôi dì Bì, dì chứng kiến hết, dì biết hết và dì phải quay trở lại. Dì bảo thế và dì đã làm thế. Dì yêu Berlin. Dì rất hạnh phúc khi được về với nhà mình. Từ một con bé mồ côi, ốm yếu không nơi nương tựa, dì đã được ngoại yêu quý, được mẹ yêu quý và được bố cùng tôi yêu quý. Dì yêu bà ngoại, yêu bố mẹ tôi và dì rất yêu tôi. Dì muốn chờ đợi tôi ra đời để kể cho tôi nghe câu chuyện này. Dì muốn tình yêu cuả dì dành cho mẹ tôi được truyền tiếp vào tôi…

 

Không phải ngẫu nhiên mà dì có mặt ở chân cầu Sài Gòn năm ấy đâu. Đó là duyên phận hết đấy. Dì biết ngày ấy tháng ấy bà ngoại và mẹ sẽ đến đấy và trùng phùng.

 

Trước khi mất dì còn nheo đôi mắt rất tinh nhanh nhìn tôi với hẹn ước gặp lại tôi. „Để xem Piero có nhận ra dì không nhé!“ rồi dì thanh thản nhắm mắt. Không thể kể hết nỗi buồn cuả tôi những ngày tháng không còn dì dù tôi biết quy luật sinh tử là cái nhẽ tất yếu cuả tạo hoá, mấy ai cưỡng được, dì nhỉ.

 

Ôi, dì Mau uyển chuyển, thanh tao với chiếc áo khoác gấm ba màu mềm mượt mà… Con vẫn thấy bóng dáng dì khắp nơi, trong nhà mình đây, khi thì thấy dì mơ màng cạnh khóm hồng bạch, khi thì nằm lim rim sưởi nắng ngoài sân., khi thì cheo leo trên cành ngắm chim hót, mỗi khi con đi học về không có dì mừng quýnh ra đón, tối ngồi xem tivi không còn dì trên lòng bố mẹ hay lòng con, nơi mà dì thích nhất. .. lòng con thương nhớ dì khôn nguôi.

 

Con hẹn dì ở một kiếp sau cũng như mình ở một kiếp nào xưa và kiếp này dì nhé. Còn duyên là mình còn gặp nhau mà dì ơi, dì Mau cuả con.

 

 

Trên tàu từ München về Berlin

21.5.2014

Tặng KTAG, người đàn bà oải hương

 

 

Mua cho em,

Người đàn bà oải hương.

Túi oải hương nho nhỏ

Để hít hà, em nhé

Để em biết

Đời còn nhiều hệ lụy

Lọc chắt chiu

Những cay đắng tận cùng

Cất vào tim

Tròn những nhớ nhung

 

Oải hương nồng nàn

Li ti hình giọt lệ

Những cánh đồng oải hương, những cánh đồng đời

Ngút ngát chân trời

Tím đến não nùng

Tím đến vô cùng

Vãi chan chứa nhớ nhung

 

Một túi oải hương nhỏ

Mà tình thì khôn cùng

Thêm một chút tim tím

Vào cuộc đời mênh mông

 

Oải hương để tặng người thương

Một màu tím ngát nhẹ vương nỗi sầu

Những ai còn yêu… còn đau

Thì tim còn trĩu hương sầu oải hương

 

16.8.2014

Berlin, ngày 9.11.2014


DSC01760

Trời đìu hiu và ảm đạm. Tỉnh dậy mình nằm nướng trên giường và nhìn qua cửa sổ. Một chủ nhật mùa thu như bao chủ nhật khác. Berlin lá vàng đã rụng ngập các lối đi, thậm chí có những cây rụng hết không còn lá nào, trơ ra những cành nhánh khô khẳng. Đã đầu tháng Mười Một còn gì. Nhưng phải nói năm nay mùa thu đẹp. Berlin khô ráo và khá ấm so với mùa này của năm, nhẽ thường là ẩm ướt lạnh lẽo lắm rồi.

 

Mình thu lu trong hơi ấm của chăn và nhớ đến những tháng ngày đi ở. „Đi hay ở ? “. Đó là câu hỏi mà trong suốt những tháng ngày này của 25 năm trước luôn bức bách mình. Và chắc cũng không phải chỉ mình mình. „Đi hay ở ? „ Câu hỏi ấy đã được đặt ra kể từ sáng ngày 10.11.1989 và còn trở đi trở lại mãi về sau này. Cho mình và chắc chắn không chỉ cho riêng mình mà còn cho tất cả những ai đã trải qua những tháng ngày sôi động ấy. Những tháng ngày mà khó có thể có một quyết định làm ta thật hài lòng, thật yên tâm về quyết định ấy bởi muốn hay không muốn người ta đều bị chao đảo không nhiều thì ít do sự đặc biệt hoàn cảnh. Đều phải tự hỏi, mình quyết định vậy đã đúng chưa? Mình có sai lầm không? Sắp tới mình sống thế nào? Cũng như quyết định „Về hay ở ?“ của khoảng một năm sau khi bị nhà máy cắt hợp đồng lao động và thải hồi hàng loạt để nhận tiền đền bù bằng ba tháng lương cuối cùng nếu về nước, còn ở lại là một tương lai vô định. Về đâu? Ở đâu? Sống bằng cách nào? Cư trú ra sao?…

 

Sáng mùng 10.11, khi bước chân vào nhà máy, mình chỉ cảm thấy một không khí là lạ. Chưa kịp nói gì. Lên phòng tổ chức cán bộ để nhận một công việc gì đó là một việc làm quen thuộc hàng ngày, mọi việc vẫn nguyên nhưng vẫn có một điều gì đó xao động. Nhưng khi vừa xuống đến xưởng thì lập tức các đồng nghiệp Đức vây đến „Thu ơi, Thu ơi, biết gì chưa? Bức tường đổ rồi đó, bức tường đã được mở“. Mình còn đang ngơ ngác vì vẫn chưa định thần để hiểu bức tường được nói đây là bức tường nào. Khi các đồng nghiệp Đức nói „Thế là chúng ta sang được Tây Berlin đấy, đi không? Chúng tôi đi đây. Chào nhé!“. Rồi sau đó một số người đã không bao giờ mình còn gặp lại giữa biển đời mênh mông này…

 

Mình nằm nướng trên giường và muốn một ngày trọng đại như ngày hôm nay chỉ mình mình với mình thôi. Để cho mọi kỷ niệm thấm đẫm từ trong ký ức mình được trở về một cách nguyên thuỷ nhất, không bị những thiên kiến, những nhận thức đã thay đổi theo thời gian can thiệp.

 

ARD chiếu liền mấy phim về bức tường, về thời kỳ chia cắt Đông Tây đó mà hầu như mình đều đã xem, nhiều khi không phải chỉ một lần.  Ví dụ như  phim „Phía bên kia bức tường“ mình không phải xem lần đầu vậy mà lần nào sự đau đớn cũng như nhau. Đau thắt ngực, nước mắt mình chảy cho lần thứ bao nhiêu mỗi khi cảnh đôi nam nữ thanh niên biết mình chết mà vẫn liều nhảy lên hàng rào dây kẽm gai với một hy vọng cuối cùng là thoát, cho cảnh hai đứa trẻ bị bắt cùng bố mẹ khi trốn trong cốp ôtô bị công an lôi ra… Và cảnh những lính biên phòng thẳng tay bắn vào cô gái, cô rơi từ hàng rào xuống bên cạnh người yêu mình cũng bị trọng thương đầm đìa máu…. Không hề cường điệu. Bởi mình biết đó là những sự thật mà mình không được chứng kiến nhưng nó đã xảy ra trong lịch sử xoay quanh bức tường này.

 

Bức tường với mình ấn tượng nhất là những năm 70, khi còn là học sinh ở đây, chiều nào đi học về mình cũng thấy những người Tây Berlin đứng trên một chòi cao, bên kia bức tường, khăn tay chấm nước mắt nhìn về bên này. Mình biết, bỗng phút chốc mà họ bị chia cắt với gia đình, họ hàng, bè bạn… nên đó là những giọt nước mắt đau thương. Nó như những giọt nước mắt hai bên bờ Bến Hải Việt Nam vậy, đổ ra không biết bao năm ròng chia cắt và gia đình mình không là một ngoại lệ mà cũng như hàng vạn, hàng triệu gia đình VN khác. Con người ta thường bị đẩy hay được đẩy thì cũng vậy thôi vào những hoàn cảnh khác nhau và vô cùng bất lực trước tình thế. Đời không thể đơn giản nói rằng „Tôi sẽ thế này hoặc sẽ thế kia“. Khi ta từng trải một chút ta sẽ hiểu điều đó dễ dàng hơn và thông cảm với con người hơn, vị tha hơn. Nếu ta đặt mình vào những vị trí đó…

 

Mình nhớ một chiều, từ trường ra, mình đi về cùng một ông giáo và hỏi ông về những người trên chòi kia. Ông giải thích rằng họ đã quyết định sai lầm khi họ bỏ tổ quốc Cộng hòa Dân chủ Đức của mình. Ông nói một cách nhiệt thành bởi ông tin điều ấy là đúng. Với một con bé học sinh nước ngoài thì việc gì ông phải sợ hãi mà nói dối. Trừ thứ nhất ông tin vào chính những điều ông nói. Thứ hai là ông muốn tin vào những điều ông nói mà thôi. Có lẽ cả hai. Nhưng ngày ấy mình trẻ lắm. Đời còn nhiều niềm vui khác. Và sự thông cảm với nỗi đau của con người cũng hời hợt, nhàn nhạt, vậy vậy thôi. Nhưng kỷ niệm về bức tường chia cắt Berlin cứ theo mình mãi những năm tháng sau này mỗi khi mình nhớ đến Berlin. Kể với bất kỳ ai về Berlin bao giờ mình cũng nhớ những đôi mắt mọng nước và tiếng nức nở sau khăn tay của những người đứng trên cái chòi ấy vào những lúc chiều tà, tan tầm… Cái thời khắc của chim về tổ, của „Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà“ ấy dễ làm lay động lòng người.

 

Khi quay sang lại, gần chục năm sau, mình đã là một con người khác. Đời dậy cho rất nhiều điều và mình trưởng thành lên rất nhiều. Bức tường Berlin đã được mình nhìn dưới một con mắt khác. Mình đã thấy sự đau đớn của một dân tộc bị chia cắt. Còn phi lý không thì mình chưa muốn lạm bàn bởi có nhiều điều hiển nhiên phi lý với người này mà lại cũng rất hiển nhiên có lý với người khác, nhất là vấn đề chính trị. (Phản động thế đấy! Đành chịu, nhưng mình là người thật, rất thật với chính mình và cả với thiên hạ, mình chỉ nói, chỉ viết cái mình nghĩ được thôi, không giả vờ hay a dua được. Ai phê phán thế nào cũng đành chịu. „Gái goá không lo việc triều đình „ được. Xin cho hai chữ bằng an!)

 

 Mình có ông sếp nhà ở ngay sát một đoạn chân tường, nơi mà chỉ những cán bộ trung cao gì đó hay là phải có những tiêu chuẩn gì đó như Stasi mới được ở. Mà dưới thời Đông Đức thì cứ năm người đã có ba người là nằm trong đội quân mật vụ này rồi, để bảo vệ chế độ. Nghe bảo vậy, chả hiểu hư thực đến đâu. Mà thực ra có chế độ nào không vậy đâu nhỉ nếu vì quyền lợi của thể chế mình gìn giữ, vấn đề là thực hiện ra sao thôi. Nhà máy mình làm và nhà bạn mình không cách xa bức tường bao nhiêu nên mình hay đi qua và khi quan sát bức tường mình chỉ nghĩ đến nỗi đau ly biệt của con người. Những mối quan hệ gần gũi trong đời như bố mẹ, cha con, chồng vợ, ông bà, bạn bè, yêu đương tình nhân… xa hơn nữa thì hàng xóm, láng giềng, đồng nghiệp… Bỗng chốc mà chia cắt, không có hẹn ngày tái ngộ. Đau đớn. Bứng ra khỏi nơi mình sinh sống dù là sự lựa chọn của chính mình nhiều khi còn đau đớn khôn nguôi nữa là…

 

Đoạn mà rõ ràng nhất là ngay cổng thành Brandenburg. Nơi mà bây giờ là Quảng trường Paris, trước khách sạn Adlon thì xưa là bãi đất trống, người ta chỉ được nhìn Cổng thành cách khoảng cả trăm mét. Trong trăm mét ấy là vùng đất cấm, cũng chưa thấy ai liều mạng chạy trốn ở đoạn này cả. Nhưng trong nhà máy thì mình thường xuyên nghe các đồng nghiệp kể vừa có vụ chạy ở Thüringer bằng máy bay chở phân hay là có người mới bơi sang sông khúc này, khúc kia của sông Spree và thoát đấy hoặc bị bắt rồi. Ít lâu trong nhà máy lại thấy xì xào, ông này, bà này vừa xin đoàn tụ với gia đình ở Tây Berlin và đã đi nhưng những tin người bị đi tù vì trốn và bị bắt thì ít hơn, kín hơn, nhưng vẫn lọt ra, xì xầm như một dòng chảy thầm kín trong dân chúng… Và mình vẫn được nghe bạn gái rất thân của mình có bố sống bên Tây Berlin nên cô ấy được đi thăm luôn luôn, về hay kể về cuộc sống bên đó. Mỗi khi cô ấy về đều thấy Đông Berlin „Như một thành phố chết“ vì không đèn đuốc rộn ràng, trống kèn cả đêm như bên kia, bởi người dân còn phải đảm bảo sức khoẻ để sáng mai xây dựng tổ quốc XHCN trong xí nghiệp, nhà máy, công sở…

 

Mình lại nhớ Việt Nam những cuối những năm bảy mươi đầu những năm tám mươi khi phong trào di tản đang rầm rộ. Đại gia đình mình cũng là một trong những nạn nhân bi thảm của phong trào này, để một ông chú là luật sư toà thượng thẩm của VNCH nay đi tù mai đi tù vì di tản không thành công, bị bắt lại, một thằng em họ chết mất tích trên biển mà đến giờ mẹ nó vẫn ngóng chờ, một thằng em họ khác niềm hy vọng của bố mẹ nó vì thông mình sáng láng nhất nhà được kỳ vọng nhất nhà thì bị điên khi sang đến Mỹ. Không hiểu do áp lực cuộc sống hay do ám ảnh của chuyến vượt biển ấy mà nó hoá điên. Là người dát hoặc là do ý thức chính trị không rõ ràng gì hoặc nói cụ thể ra là quá kém (như nhiều người nhận xét) nên kể cả khi một bà cô mình thấy mình mới ở nước ngoài về, rủ đi vượt biên, mình cũng không đi. Mình đã không ở lại CHDC Đức ngày ấy theo tiếng gọi của tình yêu cũng vì yêu bố mẹ và anh trai mình thì làm sao bây giờ mình lại dám đi theo mấy đứa em họ mình được. Lênh đênh đến một bến bờ vô định với bao nguy hiểm rình rập, cho dù biết bao người thành công và giầu có nơi miền đất hưá. Nhà mình sung túc, đầy đủ, hạnh phúc… Mình không có động lực nào thúc đẩy để phải rời bỏ tất cả những hạnh phúc mà mình đang có để đổi lấy cái mình chưa có mà chưa chắc đã hơn. Mình về bản chất là con người thủ cựu, sợ thay đổi, sợ nguy hiểm… nên nhiều khi thành ra trung thành, chung thủy mới chết chứ! Ấy cho nên cái sự chung thủy ở đời lắm lúc cũng là do ngại thay đổi mà ra thôi chứ chẳng phải đáng được ca ngợi nhiều thế đâu. Cũng với suy nghĩ ấy mà mình đã không đi sang Tây Berlin những ngày sau đấy. Dù đêm ấy mình đã đi.

 

Ngay hôm ấy, đêm mùng mười, mình quyết định đi. Bởi cơ hội chỉ sợ không bao giờ trở lại. Bởi còn có thông tin là biết đâu sẽ đóng lại tường. Không kịp thông tin về VN, ngày ấy thư từ tin tức đi lại đâu có như bây giờ, mình nghĩ nếu đi thoát mình sẽ viết thư cho bố. Trên người mình chỉ có một cái đãy, những thứ mình cho là quan trọng nhất, thư từ của bố mình, ảnh của gia đình, kỷ niệm của mẹ mình, còn Dollar, DMark và tiền tiết kiệm được nhét vào trong con thỏ bông ba lô con gái đeo. Con gái khi ấy mới vừa sinh nhật tám tuổi xong có một tuần. Mặc thật ấm… hai mẹ con chen vào dòng người nô nức, như nêm ấy, nhích từng bước một… để đến điểm biên giới giữa Đ-T là cầu Böse ở gần đại lộ Schönhauser đi lên. Cây cầu mà sau đó độ dăm năm là nơi phải „đóng thuế“ bán thuốc lá nhiều nhất, nơi tranh chấp giữa các băng đảng Việt Nam nổi tiếng bởi mại lực cũng như mãi lực của thuốc lá lậu kinh khủng, lời cũng kinh khủng nên có những thời kỳ tiền thuế cả trăm ngàn DMark cho một tháng tại đó. Bao nhiêu người thì chia đầu người ra mà đóng. Nhiều thì đóng ít mà ít thì mỗi người sẽ đóng nhiều. Và hệ quả là không biết bao người cũng từ cây cầu này mà uổng mạng do những tranh chấp không tiền khoáng hậu này. Đây cũng chính là cây cầu mà khi kỷ niệm 20 năm bức tường bị phá vỡ, nghĩa là trước đây năm năm, là nơi các chính khách nổi tiếng, những người đã đóng góp rất nhiều cho sự thống nhất của dân tộc Đức này như Gorbachốp, Kohl, Merkel… đã cùng nhau gặp mặt tại đây để ôn lại những hồi ức sự kiện trọng đại ấy.

 

Trở lại „Cái đêm hôm ấy đêm gì“, gần cả cây số mà bị kẹt cứng mình chỉ sợ lạc mất con. Nắm chặt tay con mà nó thì bé quá, thấp quá chỉ sợ nó bị ngạt vì người đông quá, lèn nhau… Trời lạnh mà nóng hừng hực lên vì năng lượng của từng ấy con người cùng nhất thời tỏa ra, được giải phóng, cùng chung một mục đích thì sự cộng hưởng phải đến đâu. Sau hàng tiếng đồng hồ thì đến được cái cổng lọt vào bé tí, chỉ một bước nữa là sang bên kia. Vậy mà mình và con gái bị chặn lại vì là người nước ngoài, không có hộ chiếu hay chứng minh thư Đức. Thế là hai mẹ con lại ngược dòng, cũng khó khăn như thế để về lại khu tập thể ở tận gần ngoại ô Berlin mà „xa lắm tận phương Đông“ cơ. Ngày mai lại đi làm „như chưa hề có cuộc chia ly“. Bởi ngày ấy việc chạy sang TB vẫn là một điều cấm kỵ đối với quy định của ĐSQ.

 

Berlin, d 18.1.1990 hai mẹ con

 

Những ngày sau đấy là những ngày quyết định „Đi hay ở“ luôn đặt lên để cân nhắc đến đau cả đầu cho biết bao người Việt HTLĐ bên này. Bởi hai, ba năm nữa hết hợp đồng lao động là về nước. Giỏi lắm là vài ba cái xe máy, dăm bảy ngàn Mark Đông Đức mang về. Còn đây là thế giới tư bản đầy hấp dẫn mà sau công cuộc thống nhất Việt Nam, người Bắc đã được tận mắt chứng kiến sự „phồn vinh giả tạo“ ấy và người Nam thì nuối tiếc „nọc độc của chủ nghĩa TB“. Đây chính là thời gian người Việt trèo tường, vượt rừng, chui vào xe ôtô của những người bạn Đức tốt bụng… bằng nhiều phương tiện, phương cách khác nhau để sang Tây Đức hay Tây Berlin tị nạn. Trong đội kẻ đi người ở, không ai biết mình ngày mai thế nào, có còn gặp nhau không bởi thời điểm này là „Tráng sĩ hề một đi không trở lại“. Không ai nói với ai những dự định của mình nếu không rất thân thiết, tin cậy.

 

Các khu tập thể tan hoang. Những hàng họ mà công nhân tích cóp rất vất vả khó khăn để đóng hòm gửi về (trong thời gian lao động năm năm được về phép một lần với một hòm, về hẳn được đóng hàng một hòm nữa.) bỗng chốc vứt đầy cầu thang: đường, xà phòng, bát điã cốc chén… lổng chổng khắp nơi. Cả một thời gian dài mình không cần mua xà phòng và mua đường để xài vì nhiều quá. Nghĩ lại thương anh em trong đội khốn khổ khốn nạn vì lùng sục hàng họ để gửi về sau những ngày làm việc vất vả. Tiếc mấy thì tiếc chứ những người ở lại dùng sao hết, nhặt chục bánh, chục bịch đường là hết dù biết là phí lắm. Thế rồi số phận những hàng họ ấy sau này thế nào mình cũng chẳng biết nữa. Vì thời gian sôi động ấy còn thời gian đâu mà nghĩ đến những việc tủn mủn đó.

 

Còn rất ít cán bộ đội và phiên dịch ở lại, dù có bổ sung ở những nơi khác đến, nhưng công việc mình ngập đầu ngập cổ, hàng ngày vẫn phải vào ca đi dịch, rồi lên hải quan làm việc thùng hòm cho những người ở lại theo tiêu chuẩn của họ khi về, rồi vẫn đón đội mới sang, bởi hiệp định đã ký giữa hai nhà nước vẫn phải thực hiện, dù sang là chỉ để mấy tháng sau nhà máy chính thức thải hồi cho họ nhận tiền đền bù về nước, rồi những việc bất trắc như trường hợp ốm đau thủ tục về nước, D. bị tai nạn ô tô, mất thủ tục ma chay trong đội, nhận xác, về nước… Rồi sau đó thì việc công nhân VN nằm trong đợt thải hồi đầu tiên của nhà máy về nước. Để lo cho một đội mà quân số lớn thứ nhì về công nhân VN trong ngành công nghiệp nhẹ của Berlin với hơn bốn trăm người từ việc nhận tiền, tiêu chuẩn về nước, mua vé máy bay… đến khi đưa tiễn anh em ra tận chân máy bay… quả là không ít công việc.

 

Trong khi đó vẫn „Đi hay ở?“

 

Cái thời điểm hai mẹ con không được qua cái cửa bé nhỏ ở chân cầu biên giới đó để sang Tây Berlin như bao người khác không hiểu sao lòng mình thấy lại nhẹ nhõm, nhẹ bấc đi như thể là có một niềm vui âm ỉ nào đó. „Thế là mình vẫn được nhìn thấy VN, vẫn được gặp bố, gặp anh, mình và con gái mình vẫn được gặp bố nó!“. Đêm ấy mình và con gái phải đi bộ rất lâu, hình như gần sáng mới về đến khu TT vì tàu bè nghẽn tắc cả. Con gái mình biết là không được kể cho ai về chuyến đi đêm ấy và nó đã không kể, thậm chí đến giờ này ít ai biết nó đã trải qua một đêm trọng đại như thế trong đời, một đêm mà sau này lịch sử không những Đức mà thế giới sẽ còn ghi nhớ và nhắc nhở mãi. Bơi nó biết, là người VN là phải biết cái gì, với ai thì được phép nói hoặc không được phép nói. Chế độ dạy cho ta điều đó. Ngay từ bé mình đã được dạy điều đó, không ai được phép biết mình có một bác ruột ở trong Nam mà nhà mình vẫn nhận thư từ, ảnh, tin từ Paris, nhất là thái độ chính trị không rõ ràng?! Bên nội, chỉ có bố và chú mình ở ngoài Bắc nhưng không trong diện tập kết, cả nhà nội còn trong Nam (ai cũng biết) nhưng không có quan hệ. Tập kết ngày ấy như một cái mác định hình cho sự trung thành và đáng tin cậy, có nhiều quyền lợi hơn, anh em nhà mình vì vậy không được những đặc quyền ấy, được đi học nước ngoài chỉ do thực lực của bản thân mỗi người mà thôi.

 

Sau đó còn vài lần mình „đi“ nữa, cùng với bạn bè nhưng đều không được. Có lẽ tại bản thân mình đâu đó sâu xa trong thâm tâm là không muốn nên chả lần nào mình buồn bã cả hay hậm hực gì vì sao thiên hạ đi được mà mình không đi được. Nghe thiên hạ kể về những điều mắt thấy tai nghe rồi được cho cam, cho chuối, một biểu tượng xa xỉ của thời Đông Đức, mỗi người được nhận một trăm DMark như là sự chào đón nho nhỏ… của thế giớ tự do, mình cũng không hào hứng gì. Mình vẫn đi làm, vẫn nhiều việc bởi công việc thì rất nhiều mà người làm thì ít đi. Bạn bè rủ tối nay đi đi, đi cho biết rồi lại về chẳng hạn. Những lần ấy là mình toàn để con gái ở nhà, nhờ các cô trông vì mình sẽ về, chỉ đi chơi thôi. Mình không thể không được gặp lại bố mình được, không thể không về Việt Nam được. Bây giờ một phần tư thế kỷ đã trôi qua, hoàn cảnh đã khác nhiều, mình cũng khác đi nhiều nên có thể mình sẽ nghĩ khác đi nếu như trở lại thời điểm đó, nhưng khi ấy thì không. Mà làm gì còn có nếu và giá như nữa…

 

Nhưng có lẽ tất cả những điều ấy là tác động rất nhiều của một người bạn mình, một bác sỹ phụ khoa Đức. Mình và ông đã nhiều lần trò chuyện về tình hình Đông Âu, về sự thống nhất của nước Đức. Có thể hay không có thể? Và nếu có thể thì bao lâu nữa? Ngày ấy khi tất cả còn vô định thì ông đã khẳng định một cách chắc chắn khi bàn về những vấn đề Đông Âu với mình rằng „Nước Đức sẽ thống nhất và muộn nhất là hai năm nữa, thậm chí có thể sớm hơn nhiều“. Mình tin ông và có lẽ bởi vậy, mọi thứ đều chần chừ. Và quả thật. Lịch sử chứng minh điều đó.

 

Ngày ấy, nếu ai đã trải qua mới hiểu mọi sự nó cứ rối tung lên, cứ bùng nhùng, nhộn nhạo, cứ phấp phỏng, cứ mông lung, không có gì là rõ ràng được cả… Cho nên bây giờ mà mình nghe ai thánh tướng nói tôi tính thế này, tôi nghĩ thế kia lúc ấy là mình buồn cười lắm, bởi họ quên nhanh quá bởi lúc ấy ai cũng ngu ngơ và hầu như không hiểu gì về thời cuộc xoay vần. Họ tự khoác cho mình những  điều tưởng tượng sau những thành công nếu có mà phải nói do thời cuộc đưa đẩy khá nhiều, tất nhiên mình không phủ nhận tài năng của rất nhiều người nhưng mình không thích những người không tôn trọng tính khách quan của hoàn cảnh.

 

Mình là người cả đời lưỡng lự chứ nếu không mình đã cùng con gái với bạn mình qua đường Hung từ những ngày đầu năm tám chín. Gã rủ, mình không đi, thế là gã qua Hung, qua Áo để sang Hà Lan. Hungary là nước đầu tiên bằng những quyết định của những người lãnh đạo nhà nước bấy giờ đã mở cửa biên giới Áo – Hung cho hàng ngàn người tị nạn Đông Đức qua được thế giới tự do bằng con đường đó.  Mình đã gửi gã cho em mình đang là sinh viên ở Budapest. Gã sang thì đến nơi, trú nhờ tập thể em một hai hôm trước khi tìm đường ra biên giới. Và gã bạn mình chính là một trong những công dân Đông Đức thành công qua con đường biên giới Hung mở cửa sang Áo từ những ngày mùa xuân năm 89 ấy. Tình yêu của gã không đủ để mình mạo hiểm cuộc sống của hai mẹ con và nhất là khi nghĩ đến một viễn cảnh „Biết bao giờ trở về Việt Nam…?“ bài hát mà lần nào nghe đến mình cũng chảy nước mắt. Không được trở về Việt Nam, gặp bố, gặp anh… không bao giờ mình nghĩ đến. Bức tường Berlin đổ đã chia cắt nhiều mối tình của kẻ ở người đi, đẩy vào vòng tay nhau những cuộc tình oan trái và tái hợp bao mối duyên dang dở.

 

Tuy thế, sau đó cũng có lần vượt tường thành công. Rất vô tình thôi, hôm đấy, bố con gái mình đã từ Tiệp sang, hai đứa quyết định đi cùng với một vài người bạn. Chẳng hiểu sao lần ấy lại được. Nằm sấp trên mặt tường thành ngay bên Cổng thành Brandenburg do mọi người đội cồng kênh lên vì mình quá thấp, ngửi mùi khai khai của đất, của nước tiểu chắc do phấn khích quá của nhiều người, của mùi bia, mùi Champagne… trong tiếng tung hô vang trời đất của hàng vạn con người… cảm xúc đó cũng là duy nhất trong đời, chắc chẳng bao giờ quên. Bằng chứng là hai lăm năm sau mình vẫn ngửi thấy mùi khai ấy quanh đây, nếu nghĩ đến tường thành hoặc mỗi lần đi qua cổng thành Brandenburg. Và mình cũng không quên là khi tụt xuống phía bên kia là mình tụt vào đầu vào cổ một cậu Việt Nam của nhạc viện Hà Nội đi thi Concurt Arcoocdeon. Cậu ấy được cử đi thi nhưng do trật chìa kế hoạch sao đó mà không đi thi kịp, hay là thiếu áo quần biểu diễn hay không mua nổi vé tàu sao đó nên lỡ vụ thi thố thì lại đúng vào lúc mở cổng thành nên cậu ấy sang tị nạn luôn nhưng lòng vẫn canh cánh sợ bố mẹ ở nhà phải vạ vì cái đàn ấy hai cây (không nhớ rõ) vàng, sợ cha mẹ không trả nổi nhà trường. Mà ngày ấy số tiền ấy to lắm, không tưởng đối với một gia đình cán bộ công nhân viên chức nhà nước bình thường. Cậu ấy mừng quá, vì thấy bọn mình sang nhưng rồi lại buồn quá vì mình bảo anh chị không sang tị nạn đâu, sang xem thôi em ạ, anh chị còn cháu để ở nhà.

 

Lần đầu tiên thấy tận mắt, sờ tận tay thế giới tư bản. Cái gì cũng lấp loáng chói ngời. Vì chưa biết đi đâu nên tất cả rồi cũng đều gặp nhau ở khu vực trung tâm Tây Berlin. Lần đầu tiên biết Sexshop, lạc vào mà không biết, hoảng hồn khi nhìn kỹ các thứ và tay nắm phải cái Linga rõ to làm mẫu trong cửa hàng. Rồi đi sang trung tâm tị nạn, vì là cấp tập, lượng người tị nạn tứ xứ đổ về trong một thời gian quá gấp nên nhà vệ sinh ngập ngụa, tràn ra cả hành lang to rộng, bẩn kinh khủng. Chỉ vì vậy mà mình dứt điểm hoàn toàn sự phân vân „Đi hay ở“ một cách không nuối tiếc. Ở đời nhiều khi những khúc ngoặt quan trọng chỉ là do những tác động rất vô tình, ngẫu nhiên và không sinh tử gì như vấn đề cái toalét này hôm ấy. Giả sử hôm ấy mà toalet sạch sẽ có khi đã không có một VINAPHUNU, một bà Loos… như bây giờ. Nhỉ? Chẳng biết được. Cuộc đời có vô vàn ngã rẽ mà số phận đưa đẩy. Ít ai biết trước. Bởi vậy thắng không kiêu mà bại không nản là vậy. Mình vẫn tự răn mình như vậy và sống như vậy.

 

Rồi hôm nay đây mình ngồi tự xem lại cuốn phim trong lòng mình. Một mình gậm nhấm lại quá khứ. Biết bao đổi thay, vật đổi sao dời. Quả là Thương hải tang điền. Biển xanh hoá nương dâu lúc nào… Và mình lại quyết định ra đường hòa vào dòng người kia để tìm lại những cảm xúc ngày đó.

 

Nô nức, chen chúc, hồ hởi, chật như nêm cối, tàu xe không có chỗ len chân… hàng trăm ngàn người đổ về công viên Bức tường, gần quần thể Bảo tàng cùng tên để cùng nhau ngắm những trái bóng sẽ được thả lên trời với bao nguyện ước hòa bình cho nhân loại, không còn ly biệt, không còn chia cắt. Từ nhiều ngày qua, Berlin đã tổ chức cho ngày này với bao hồi hộp. Tám ngàn trái bóng cho 15 km trong 150 km đường biên giới xưa chia cắt Berlin được thắp sáng bằng những ngọn đèn bên trong. Mỗi trái bóng là một nhân vật hay một tổ chức đỡ đầu và đúng 7 giờ tối sẽ được thả lên bầu trời đêm Berlin. Lung linh huyền ảo Berlin trong ánh đèn với con đường ánh sáng dài 15 km đó quả là một kỳ quan, hấp dẫn không chỉ khách du lịch đến từ mọi miền nước Đức, từ nhiều nơi trên thế giới mà từ chính những người dân Berlin. Chen chúc ồn ào trong tiếng cười, tiếng champagne nổ lốp bốp, tiếng chúc tụng nhau bằng đủ thứ tiếng Đức, Nga, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Nhật, Trung Quốc, Hà Lan… Và còn nhiều thứ tiếng lạ với mình… trong một không khí lành lạnh, trái tim ấm nóng và đầu óc minh mẫn sáng suốt khi nhìn về quá khứ, mình càng hiểu rằng con người ta dù dân tộc nào, màu da nào, nói thứ tiếng nào thì tình cảm là một dù cho biểu hiện có thể khác nhau ít nhiều. Hòa bình, tình yêu và tự do là nguyện ước chung, là tiếng nói chung của nhân loại và chẳng có thế lực nào, có thể chế nào đi ngược lại mong muốn chung của con người mà có thể ngăn cản nổi điều đó. Có chăng chỉ là vấn đề của thời gian mà thôi.

 

Viết cho những hồi ức của riêng mình

Berlin tháng 11.2014

“Khinh giải la thường

 Độc thướng lan chu” LTC.

 

 Tặng chị, ĐT yêu quý – Giai nhân không tuổi bên kia bờ đại dương

 

 

 

Thuyền mắc cạn rêu buồn không bến đỗ

Sóng dịu dàng chấp chới mãi ngoài xa

Trời u hoài, cả một trời thương nhớ

Biển thì thầm, biển cất lên lời ca

 

Rủ rỉ buồn như lời ai than thở

Ru tình mình về mãi bến bờ xa

Gọi thương nhớ, gọi nồng nàn, hoài vọng

Của kiếp người bao ái ố nhạt nhoà

 

Đời thì rộng mà bến bờ nhiều quá

Mỏi mệt rồi, thuyền chờ đợi điều chi

Rồi rã rời, cánh chim trời xoã cánh

Rồi dần xa, những mộng ước xuân thì

 

Hạnh phúc sao khi thuyền mơ rời bến

Chở tình ta trên sóng biển bạc đầu

Gió múa bút vẽ bao niềm hy vọng

Lên cát mềm, ơi dã tràng đi đâu

 

Ôi đàn bà, ôi niềm đau cô tịch

Thuyền cô đơn trên cát biển mỗi chiều

Hoàng hôn rớt vào những chiều thu muộn

Biển rì rào trong muôn ngàn cô liêu

 

Rồi đêm về, biển thở dài như nghẹn

Thương thuyền xưa đã rêu phong phủ đầy

Thương nỗi sầu mà gió hào phóng tặng

Thổi qua thuyền mang bao niềm đắm say

 

Là thiếu gió hay thiếu cánh buồm nhỉ

Là thiếu tình hay là thiếu du dương

Của sóng vỗ của ngàn năm chờ đợi

Thuyền u sầu thuyền khát những yêu đương

 

Những nỗi niềm mỗi khi tình tan nát

Trăng ngập bờ, sao lấp lánh, biển chờ

Những hải trình, cùng thuyền, sóng mong đợi

Nơi viễn xứ, thả hồn, viễn khách mơ

 

Ôi cô đơn u tịch những chiều buồn

Của con thuyền cô độc trong chiều hôm

Đợi mong mãi

Rêu phong đà phủ khắp

Mãi chờ hoài

Chờ đến rã linh hồn

 

 

9.2014

 

S5920003Triêu như thanh ti mộ thành tuyết” LB

 

 

Thu chưa đến nhưng hồn thu đã đến

Hạ sắp tàn lòng còn quyến luyến chi

Sương đã phủ mỗi khi chiều rơi xuống

Lá đã vàng và tình đã chia ly

 

Mây thì nặng như sà xuống thấp

Gió thì mềm như lòng ngả nghiêng

Bầy chim sẻ rã rời từng cánh nhỏ…

Em đi đâu hỡi mùa hạ hồn nhiên

 

Là luống cuống giữa muôn vàn e ấp

Là vội vàng như sợ mùa hạ đi

Là háo hức đón chờ heo may đến

Chở hồn ta vào bao ngả mê si

 

Gầy guộc nở nhị tàn hoa phai sắc

Héo hon buồn ong bướm biếng cỏ cây

Người cô độc ly cà phê một nửa

Nhân thế sầu nhung nhớ nỗi niềm tây

 

Ngoảnh lại mình tóc trên đầu đã bạc

Mới ngày nào còn xanh mướt như tơ

Tình còn mới và lòng còn hoang hoải

Nắng phai màu

Có bao giờ tình mơ?

 

8.2014

AGHT


S7710002“Tân hoa chi thắng cựu hoa chi” VMĐ

 

 

 Hoa thì rụng và lòng người chấp chới

Một chút nắng thôi, gió động lay cành

Nắng tháng Sáu qua lòng người thấp thoáng

Hoa cũ rồi. Ôi sao tình mong manh

 

Tình đã hết những tháng ngày đã cạn

Hoa đã khô và mộng đã úa tàn

Nhành hoa mới đau lòng nhành hoa cũ?

Hạ chớm về mà lòng đã thu sang!

 

Người đàn bà đem lòng yêu hoa cũ

Cả một đời yêu mãi bóng hình xưa

Cả một đời sầu cô đơn thấm đượm

Giữa nhân gian mà lẻ loi vô bờ

 

Hoa vẫn cũ nhưng lòng người sẽ mới

Dù màu tươi xưa rồi sẽ phai tàn…

 

Rồi hoa mới mà lòng người lại cũ

Suốt trọn kiếp người tan hợp hợp tan…

 

 

10.6.2014

 

Chiều phố núi

 

Tặng Hạnh Trần

Gửi hai bạn Lợi Phương

IMG_4307

 

Núi tím mờ và chiều xuống rất nhanh

Gió bảng lảng -Ơi những chiều phố núi

Lau sậy phất phơ, cỏ cây chờ đợi

Thoi thóp nắng vàng – Rót xuống hoàng hôn

 

Sợ lạc đường về, lộc cộc nhặt khoan

Trâu đủng đỉnh trong sương chiều mờ đậm

Gùi thấp thoáng sau lưng áo chàm thẫm…

Quảng Nạp chợ chiều, sao mà buồn tái tê

 

Tiếng trẻ à ê, nhà nhà đỏ lửa

Thơm cơm chiều, gà tục tục trước sân

Các mế ngồi trò chuyện vãn xa gần

Mà tưởng nhớ những tháng ngày xưa cũ

 

Tiếng suối nhẹ nhàng róc rách êm ru

Xao xác trên cao, chim trời tìm tổ

Tàu lá chuối khô, phần phật gió vỗ…

Hết một đời người vẫn nhớ chiều nao

 

Cô bạn ngày xưa tóc bím ngang lưng

Hò hẹn riú ran, những chiều phố núi

Rồi nay mai bạn lại về Hà Nội

Bạn nhớ rừng, nhớ núi, nhớ tôi không?“

 

Thời gian qua mau, vùn vụt… nhớ mong

Ôi đời sống sao mà nhanh, rất vội…

 

Nhớ bạn, nhớ rừng, nhớ những chiều phố núi

Bốn chục năm rồi, ta còn nhận ra nhau?

 

 

Berlin, 22.5.2014

 

 

 

 

 

 

Kỳ nữ ôi,

 

Tặng KTAG

221120112168

Hoàng hôn không tên ở Cali

 

Ta bên em là địa ngục kề bên

Ta vụt nhảy mà chẳng hề do dự

Ôi đôi mắt đen, đôi mắt kỳ nữ

Khi yêu em ta được nửa thiên đường

Và hồn ta bỗng lạc nẻo vấn vương

Trong mắt em, ta ngỡ mình chết đuối

Sát bên em, ta cận kề tội lỗi

 

Những vần thơ em, vần thơ dữ dội

Rút ruột gan như sóng biển dâng trào

Lửa bừng thức và nhận chìm tất cả

Chôn vùi ta trong nham thạch lũ tràn

Biển dậy sóng và hồn ta sáng tối

Mộng mị theo em, quỷ dữ dẫn đường

Bao ưu phiền được gội nắng tắm sương

Trả ta về bên em trong sáng

Giữa muôn ngàn giông bão, lung linh em

 

Kỳ nữ ôi,

 

Ôi bên em cả điạ ngục thiên đường

Ta vẫn ngập trong một trời hạnh phúc

Hỡi kỳ nữ, nàng thơ đích thực

Người đàn bà con trẻ của kỳ duyên

Của tạo hoá và của ngàn duyên kiếp

Thưởng cho ta, thơ đẫm duyên tình

 

Em bên ta, toả ngàn hương sắc

Em hỡi em, kỳ nữ của lòng anh.

 

 

München, 19.5.2014

 

30.4.1975

S7430005

Là một người rất „yếu kém về ý thức chính trị“ như tay lớp trưởng nhận định và đánh giá nên quả thật ngày này với tôi không để lại dấu ấn gì lắm. Tất nhiên là cũng rất nôn nao, rất cảm động khi trên lớp thấy ông giáo già dạy tiếng phải vẽ bản đồ Việt Nam lên bảng và gạch chéo chỗ vĩ tuyến 17 để thể hiện từ „thống nhất“, „giải phóng“ mà ông không làm sao giải thích cho những đứa học sinh mới sang Cộng hoà Dân chủ Đức này hiểu được. Bởi đó là những từ trừu tượng chứ nó không phải cam, táo, bàn ghế.. gì để mà cụ thể dễ hiểu… Còn thư từ của gia đình bạn bè mô tả về không khí nao nức hồ hởi ở nhà thì cũng hàng tháng sau mới sang đến nơi, cũng đã nguội bớt đi rồi. Có chăng không khí thời điểm đó có khác biệt là Sứ cử người xuống dạy bài „Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng…“ để thuộc lòng trong các vụ hội họp… nghiã là bất kỳ lúc nào gặp nhau là phải hát bài này, bài mà cho đến giờ tôi vẫn không nhớ thật chính xác hoàn toàn.

Chứ còn về nguyên tắc là cuộc sống của chúng tôi vẫn như ngày thường, đít cô đít cậu, lên lớp hàng ngày, học hành nghiêm chỉnh, họp hành phê nhau và tự phê mình sao cho thật thành khẩn, đi hái trộm táo, mận… hay chơi khăm cán bộ Sứ như kiểu lừa cho lão ta đứng dưới cây anh đào chín rung cây cho nó rụng quả vào áo trắng, lem nhem hết cả… khoái chí để trả thù một vụ kiểm điểm nào đó…

Năm ấy là những tháng ngày mới sang Đức, còn đang thời gian học tiếng nên tiếng Đức tôi còn rất vớ vẩn, mọi sinh hoạt của tôi đều thông qua tiếng Nga hoặc tiếng Pháp là những thứ ngôn ngữ cả nhà tôi sử dụng từ khi tôi còn rất bé (nhưng giờ thì quên hết sạch rồi).

Nhưng những ngày này hàng năm đến tôi luôn nhớ đến một kỷ niệm khó quên của tuổi trẻ. Xin kể hầu các bạn chuyện không dính dáng đến súng đạn cả và không lập trường lập trại gì để khỏi nhận đá gạch mà một người chả chính chị chính em gì như tôi cũng thường xuyên lãnh đủ.

Ngày ấy trẻ lắm, tôi mới 18 tuổi, thậm chí khi sang đến DDR mới gần 18 tuổi thì phải. Bận yêu, bận vui, bận chơi với bạn bè nhiều… Dù học hành rất bận rộn nhưng „Cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm…“ là bình thường. Chẳng có gì cũng cười, chẳng có gì cũng vui… Tuổi trẻ mà. Líu ra líu riú suốt ngày.

Lớp tôi và những lớp trên nữa lớp nào cũng có vài anh chị của Bộ NV cử sang. Mãi sau tôi mới biết Bộ NV cử người đi học ở tất cả các ngành nghề, hầu như trường nào cũng có, ngành nào cũng có. Họ có nhiệm vụ gì cụ thể không, tôi không biết nhưng nhiệm vụ phụ để canh chừng chúng tôi thì chắc chắn là có. Khi ấy còn trẻ quá, khá vô tư nên tôi không thấy hết tầm quan trọng của các anh chị ấy. Sự „tai mắt“ của các anh chị ấy đã làm tôi, không chỉ tôi, khốn đốn liêu điêu nhiều. Thường các anh chị ấy học hành khó khăn vì tuổi tác cao hơn chúng tôi nhiều, hình như là cán bộ đi học thì phải hay là cũng trượt lên trượt xuống vài năm chẳng hạn rồi đi làm, rồi ưu tiên sao đó….Tóm lại là học hành chật vật lắm.

Từ thời học phổ thông, môn chính trị là môn tôi ghét nhất cùng với thể dục. Sao mà dốt thế hả giời. Đến mức mà cô giáo chính trị không hiểu nổi vì sao lại vậy, trong khi những môn khác đều khá hoặc giỏi, trừ môn ấy. Và để vớt vát cho tôi, vì tất cả điểm số đều đủ điểm A2 nếu như điểm chính trị ko tệ vậy. Thế là bằng một tấm lòng yêu thương vô bờ bến, cô cho tôi chép lại toàn bộ vở chính trị, để lấy điểm ưu bù vào cho điểm trung bình tăng lên, đủ chuẩn khá giỏi.

Vì sao phải nhắc nhiều về việc chính trị là để nói tôi vốn kém vậy. Chứng minh là hai chục năm sau, trong một cuộc họp phổ biến chủ trương chính sách mới của Đảng „Tình hình mới có nhiệm vụ mới“ về việc hoà giải hoà hợp dân tộc để dựng xây đất nước, cũng là nhân dịp 30.4 kỷ niệm giải phóng miền Nam, thì khi cán bộ Sứ đang thao thao bất tuyệt tôi lại ngứa miệng nói rằng vấn đề „Ai giải phóng ai thì phải để hậu xét, còn các anh miệng nói vậy nhưng lại gọi những người của chế độ cũ là ngụy thì có nghiã là đương nhiên các anh là chính nhân quân tử, sợ khó hoà giải thật lòng?!!“ Cả cái bàn họp năm ấy sững người cả, bạn bè thân thiết của tôi thì nói rằng “Nói làm quái gì cho rước lấy họa vào thân“. Nhưng khổ nỗi tôi quen nói điều tôi nghĩ kể cả biết điều ấy bất lợi với mình.

Vốn chẳng phe phái gì, có tí tiếng tăm trong công việc, cũng có nhiều đảng phái hay hội đoàn chính trị lôi kéo, cả phía này cả phía kia nhưng tôi đều chán ngán trước những cá nhân, tổ chức ấy. Người thì lặp bặp nói mãi không ra một câu, tư duy ấm ớ, người thì rủ tôi vào đảng họ mà khi hỏi tôn chỉ mục đích thế nào, rặn cả ngày không ra, kẻ thì chửi đối phương một cách xuẩn ngốc, cực đoan, không bài bản gì, bạ đâu chửi đó, lý luận không có, họ chỉ là những con vẹt chính trị lặp lại những điều người khác nói… Đó là còn chưa kể đến những trục lợi cá nhân. Tóm lại là vớ vẩn, cả anh cả ả. Rất ít người tôi thấy thật sự có chính kiến khách quan, đến mức có thể, để mình nể phục, thuyết phục được mình. Và như vậy dù không đồng quan điểm tôi cũng rất tôn trọng. Nhiều kẻ mồm thì leo lẻo chống cái này chống cái kia, đòi dân chủ cho Việt Nam mà chỉ khi người khác không cùng chính kiến với mình là hùng hổ chụp mũ, lăng mạ, chửi bậy bạ… Bởi vậy nên tôi không thích chính trị và cũng có lẽ từ đó không tham gia. Công việc tôi chỉ vì hạnh phúc cộng đồng. Tất nhiên trong cuộc sống, ít nhiều xã hội và chính trị đều có dính dấp đến nhau, dù anh muốn hay không muốn.

Quãng thời gian tháng Tư năm 75 đó là tôi vừa sang Đức mà nước Đức ngày ấy đối với chúng tôi, những đứa trẻ sinh ra lớn lên tại miền Bắc xã hội chủ nghiã thì cái gì cũng là mới lạ. DDR với chúng tôi là một miền đất kỳ thú và tình cảm của tuổi mới nhớn cũng là miền đất kỳ thú để khám phá, nhiệt tình và hăm hở.

Còn trẻ nên trông cũng dễ coi, cũng được vài anh ở những lớp trên để mắt nhưng không hiểu sao tôi không thích dù vẫn à ơi theo bản năng phụ nữ. Để đến khi có một anh thất bại trong cuộc tấn công nửa năm đã có lần nửa đùa nửa thật trong một cơn bi phẫn nói rằng „Em là con rắn độc của ái tình“. Ôi giời, khi ấy thì tôi hoảng hồn thật sự dù cả đời chưa gặp con rắn độc nào nhưng cũng biết rằng không phải là lời khen ngợi gì, chắc chắn không là một điều dễ chịu. 18 tuổi với một lời phán như đinh đóng cột ấy làm tôi hoang mang mãi. Đến tận giờ này ấy chứ. Không biết có đúng thế không? Sau một loạt những thành công cũng như thất bại trên tình trường.

Nhà văn hoá của trường Sư phạm này có một cây đàn dương cầm nên khi nhìn thấy thì tôi mừng quá. Ngày bé tôi đã học nhiều năm và sau không còn điều kiện nữa mới thôi. Nay thấy vậy nên hàng ngày tôi đều đi tập một mình. Có một lần đang tập thì tôi cảm thấy có đôi mắt nhìn từ một góc phòng rộng thênh thang vắng lặng. Chưa nói được tiếng Đức nhiều ngoài câu chào. Anh chàng đẹp trai này đến ngồi bên tôi làm quen và chúng tôi chuyện trò câu được câu chăng. Tôi phát hiện là anh trên tôi hai tuổi, con của hiệu phó trường này và đang học ở Matxcơva, về nghỉ lễ Phục sinh. Thế là sôi nổi hẳn lên, vì sự trao đổi ngôn ngữ chuyển sang được tiếng Nga. Từ đó…từ đó…

Nhưng mà câu chuyện này gian nan lắm bởi nó rơi vào đúng vào thời điểm mà học sinh sinh viên VN ở nước ngoài tuyệt đối cấm ko được yêu đương với người bản xứ, tức là các nước bạn anh em ấy. Mà kể cả với người Việt nữa ấy chứ. Khốn nạn. Ở cái ký túc xá từng phòng trong hành lang dài vậy, các phòng học sinh Tây thì đóng cửa mà phòng mình thì cửa phải mở toang hoang khi có một nam một nữ. Bọn Tây nó vô tư, mà ai kể cho nghe mà biết những cái chỉ thị thổ tả ấy nên chúng nó cứ đi qua là tiện tay đóng cửa vào. Thế là mình bên trong lại nhảy bổ ra mở cửa không các anh chị cán bộ lớp kia lại „tai mắt“ là lên Sứ kỷ luật liền (công bằng mà nói, không phải các anh chị ấy đều „dã man“ cả và những học sinh „thân Sứ“ còn „lợi hại“ hơn nhiều). Mỗi buổi nói chuyện phải nhảy ra nhảy vào ít nhất là dăm lần. Bởi „Ở đây tai vách mạch dừng“ luôn luôn phải đề phòng. Khổ nỗi có đề phòng được hết đâu. Đề phòng khi tình yêu hai chiều chứ một chiều thì bạn biết hết đâu mà phòng với chống.

Thế là đêm 30.4 bỗng dưng có một anh sinh viên Đức, trên 3 lớp. Sau khi nhậu nhẹt tưng bừng mừng Việt Nam thống nhất đã say khướt đến trước cửa sổ phòng tôi đòi gặp, đạp cửa đòi vào, hét hò ầm ĩ, bày tỏ tình yêu lâu nay câm nín với tôi mà tôi thực tình chỉ biết sơ sơ qua những lần gặp gỡ mà tôi tưởng vô tình, những cái gật đầu, lời chào, bắt tay hơi lâu hơn… . Vậy thôi. Đêm ấy tôi sợ quá, vì vẫn còn trẻ con, chưa thấy tình yêu mà được thổ lộ hò hét như vậy bao giờ. Tôi ở cùng phòng với hai chị cán bộ NV kia, hình như họ có nhiệm vụ quản tôi, sợ yêu đương lăng nhăng. Mà cũng không chắc vậy nhưng cứ vài đứa học sinh thì phải ở với ít nhất là một vị cán bộ. Rồi sự vụ tiếp diễn sao nữa tôi ko rõ vì mụ mị đi vì sợ. Sợ trước cách thổ lộ tình yêu vũ bão mà mình không quen. Sợ trước những bất trắc sẽ đến với mình và anh ấy. Sợ phát hiện ra vụ yêu con trai ông Hiệu Phó kia vỡ lở ra mà họ đã lờ mờ nghi vấn … Tóm lại là sợ hết cả thế giới, vào thời điểm đó. Vì kỷ luật vụ yêu Tây rất nghiêm ngặt, lôi thôi là bị tống cổ về liền. Mà về nước có nghĩa là nhục nhã cho bố cho mẹ, cho cả đại gia đình… không có một tương lai nào chờ đón cả.

Cả ngày hôm sau tôi sợ sấm sét rơi vào đầu bất cứ lúc nào. Đã thấy các anh chị cán bộ lớp bóng gió. Nhưng không thấy gì. Ngày hôm sau, hôm sau nữa cũng vậy. Rồi một tuần trôi qua. Vì lý do gì đó mà việc này chìm xuồng ư? Chắc sợ ảnh hưởng đến tình hữu nghị hai nước bạn chăng? Tôi nghĩ vậy nhưng tôi đã nhầm cho đến một ngày nhận được một thư xin lỗi viết tay của anh, nói rằng anh rất buồn đã thổ lộ tình cảm không đúng cách như vậy, làm ồn ào khiến tôi sợ, ở BGH ngày hôm sau khi bị gọi lên, anh đã nhận hết lỗi về mình, tôi không liên quan gì… và anh chào tôi vì dù đã là sinh viên năm cuối của trường nhưng anh bị đuổi học sau sự cố đó, anh muốn gặp tôi riêng một lần ở quán này quán này ngoài phố, tên anh là G.W. Đến bấy giờ tôi mới biết tên thật của anh. Tất nhiên làm sao tôi dám gặp anh như hẹn dù lòng tôi thật sự áy náy vì bản kỷ luật của anh quá nặng. Sau ngày này tôi không bao giờ gặp lại anh ở trường nữa, kể cả ở thư viện, căng tin hay sân trường, giờ nghỉ…

Phía Đức không thấy gì nên phía Việt Nam cũng im hơi lặng tiếng. Tất cả chỉ là kỷ luật đuổi học sinh viên G.W. của trường.

Bức thư ấy của anh là một kỷ niệm buồn và tôi giữ đến giờ này trong những kỷ vật còn lại theo năm tháng.

Một lần sau đó tôi gặp anh ngoài thành phố nhưng không dám thăm hỏi gì, chỉ chào vì hai vị nữ cán bộ kia kèm theo, không rõ vô tình hay cố ý. Chúng tôi ngày ấy đi đâu thường đi cả nhóm vài ba người, chẳng hiểu có phải thế không nhưng không đi đâu một mình bao giờ. Nghe đồn rằng anh đi làm ở nhà máy nào đó, không được học nữa. Sau đó tôi chuyển thành phố lên phương Bắc để học tiếp và không có bất cứ một tin tức nào của anh. Khoảng hai năm sau qua người yêu tôi, chẳng hiểu gã này nói thật hay do ghen tuông gì mà có nói với tôi hai lần là gã này về trường cũ đá bóng thì gặp G.W. đến chơi với bạn bè. Anh ấy hỏi thăm tôi, xin địa chỉ, nhưng gã không đưa và cũng không nói quan hệ của tôi bây giờ với gã. „Việc gì anh phải nói“. Tôi có hơi nhẹ lòng khi biết tin này dù không tin lắm nhưng vẫn mong vậy.

Và cuộc tình mới chớm của tôi với anh chàng ở Matxcơva về cũng tan theo mây khói do nhiều lý do. Đã lâu không còn nhớ rõ chi tiết nữa nhưng hình như chàng bị bố tống ngay trở lại Nga sau khi phong thanh biết con mình yêu một đứa con gái Việt. Vấn đề không phải cô ta là người Việt mà cô này đã làm cho một đứa sinh viên Đức đây phải bị đuổi học. Lại một lần nữa làm tôi nhớ đến con rắn độc của ái tình (trong đời còn vài lần nữa bắt tôi phải nhớ đến điều này nhưng xin để kể vào dịp khác). Khóc lóc thương nhớ rồi cũng nguôi, bởi thư từ của học sinh Việt là bị kiểm duyệt, dù không chính thức, vì không hiểu sao toàn tay lớp trưởng nhận hộ và trao lại cho chúng tôi. Mà ngày ấy thì chủ yếu là bưu điện thôi chứ điện thoại là điều không tưởng.

Đã gần bốn chục năm trôi qua nhưng những tháng ngày ấy mỗi khi đến dịp 30.4 hào hùng này luôn trở lại trong tâm trí tôi bởi câu hỏi về số phận của G.W. luôn là điều tôi băn khoăn. Trong cuộc đời nhiều khi chỉ một tai nạn rất nhỏ, một hòn sỏi nhỏ trên đường cũng có thể thay đổi hẳn cuộc đời anh, ngoài ý muốn. Tôi luôn hy vọng là với anh mọi việc may mắn. Tôi luôn cảm giác là tôi nợ anh ấy, một món nợ mà chẳng làm sao trả được. Mà thực ra bằng từng này tuổi này rồi mới hiểu cuộc đời này là những món nợ trần gian. Có thể anh trả được, trực tiếp hay gián tiếp, mà cũng có thể anh vĩnh viễn không trả nổi trong kiếp này bởi sự vay mượn ấy đã có từ vô lượng kiếp.

Có những sự việc, những con người, những suy nghĩ mà nếu ai không trải qua những thời khắc đó thì khó lòng mà tưởng tượng nổi chứ đừng nói đến chuyện thông cảm. Bởi vậy nên lên án cũng là chuyện thường tình của con người mà thôi.

Sau này, cách đây độ mười lăm năm, một lần vô tình tôi có gặp lại tay lớp trưởng ngày đó, hắn nói ngay với ông xã tôi khi đó đi bên cạnh là ngày xưa chúng tôi đến khổ sở vì cô này đấy anh ạ. Đùa đùa nhưng mà cũng là thật. Chúng tôi mà hắn nói là ai nếu không phải là ngoài cả một cơ chế để ràng buộc và cai quản phần hồn của lũ học sinh ngớ ngẩn „Chỉ biết yêu thôi, chẳng biết gì“ ngày đó.

Điều này lại làm tôi nhớ đến những buổi tranh luận nảy lửa của tôi và hắn trong những cuộc họp Đoàn khi hắn phê tôi là thiếu đạo đức XHCN và tôi hỏi hắn là định nghĩa cho tôi thế nào là ĐĐ XHCN, cái mà tôi thiếu ấy, hắn đã không trả lời được. Để „bù đắp“ lại là với tôi, hắn có những biện pháp chặt chẽ hơn và sự nhỏ nhen trong những lợi ích khác. Bây giờ nhìn lại, lòng tôi đã phẳng lặng đi nhiều, chứ ngày xưa nghĩ đến hắn là lại sôi sục… „Lục thập nhi nhĩ thuận“. Tôi đã ở cái tuổi mà sự cảm thông có thể là vô điều kiện với mọi người. Hắn cũng chỉ làm đúng cái hắn nghĩ của cả một thời thôi. Tôi nghĩ về hắn rất nhẹ nhàng, nhưng vẫn rất đau đáu về G.W. mỗi khi đến dịp 30.4 hàng năm. Vậy mà cũng đã gần bốn mươi lần 30.4.

Và tôi cũng nhớ lại. Chúng tôi những kẻ đi Tây về lúc bấy giờ đã mừng vui và tiếc nuối ra sao ở cuối thập niên bảy mươi khi biết tin, dù không chính thức, đã được phép kết hôn với người nước ngoài qua việc ái nữ cuả TBT Đảng ta cũng lấy vị GS của mình. Nhưng khi ấy đã muộn. Nhưng muộn còn hơn là không bao giờ.

Ngày ấy đã có biết bao cuộc tình tan vỡ một cách đắng cay, bi thảm… ví dụ kể sao cho xiết. Cho dù ai cũng biết rằng chắc gì cho họ sum vầy đã hết đớn đau, bởi quy luật cuộc đời là vậy. Nhưng hãy để họ được tự do quyết định hạnh phúc hay khổ đau của mình, đừng ai can thiệp vào hạnh phúc cá nhân thô bạo như vậy. Kinh nghiệm là sự trải nghiệm của mỗi cá nhân, chẳng ai làm hộ ai được. Nhưng rồi cũng biết, thời cuộc nó là như vậy. Có ai kéo ngược được lịch sử không?

Trong những phút giây ngẫm nghĩ về cuộc đời mình, tôi luôn tự đặt cho mình những câu hỏi, những giả thiết… nhưng một trong những câu hỏi mà tôi vẫn đau đáu hơn cả là cuộc đời G.W. ra sao sau biến cố đó và tôi luôn cầu chúc cho anh bằng an vô sự để anh giữ lại trong lòng mình cảm tình về một người con gái Việt Nam mà anh đã có lần yêu mến.

Berlin, 5.2014

//

//

//

Giai Bắc Ninh…

Cảm tác trước tấm ảnh đẹp. Tặng anh HH

S7380001

Giai Bắc Ninh
Một mình
Trong vườn vắng
Bát ngát
Hoa
Nắng
Trắng đất trời
Một màu tinh khôi

Giai Bắc Ninh
Nghĩ gì, người ơi
Câu hát xưa
Còn đây
Thoang thoảng
„Bình bồng còn chút xa xôi“
Nào đâu bèo dạt mây trôi hỡi người
Giai Bắc Ninh
Nghĩa tình
Ăm ắp
Tựa mạn thuyền
Vời vợi ngày xưa
„Sông Tương một dải nông sờ..“
Yêu nhau chẳng quản đợi chờ kiếp sau

Giai Bắc Ninh
Một mình luồn kim, xe chỉ
Ngóng Ỷ Lan
Người còn nơi nao

Giai Bắc Ninh
Lưu luyến má đào
Người đã đến
Chớ vội về người nhé

Giai Bắc Ninh
Đêm đêm
Tự kể
Trong tim mình
Tiếng vó ngựa phi

* *
*

Để ai về bến sông Thương
Bên sông văng vẳng
Lời thương tặng mình

„Bao giờ ngựa anh về dinh
Cho em theo với… Giai Bắc Ninh“

Berlin
4.2014

 

//

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.